Lê Hải lược dịch từ mục PPL XHH do GS Antoni Sulek biên soạn trong Bách khoa toàn thư XHH Ba Lan. Các bạn cần trích dẫn cho lv thì đọc Handbook trong mớ sách của cô Nguyệt Anh.
Phương pháp luận (ppl) là lợi thế của xã hội học (xhh) so với các ngành khoa học xã hội, nhờ phát triển hơn trong nghiên cứu xã hội, và do vậy mà ảnh hưởng lên các ngành đó một cách hệ thống và chuẩn mực. Methodos (tiếng Hi Lạp) là con đường, dần mang nghĩa cách thực hiện các hoạt động, mà cũng chính là điểm mấu chốt phân biệt đâu là nghiên cứu khoa học (có/the ino phương pháp): đặt vấn đề, thiết kế, lấy dữ liệu, phân tích và diễn giải lý thuyết, trình bày và ứng dụng kiến thức, cũng như xây dựng hệ thống lý thuyết. Methodo-logos do vậy là khoa học về phương pháp khoa học, tức là con đường để đi vào nhận thức, mà trong một số trường hợp có thể chỉ đơn giản là một phương pháp, hoặc ngược lại, có hệ thống ppl chỉ được gọi đơn giản là phương pháp. Do vậy ppl bao gồm cả kỹ thuật tức là thực tại và cách làm việc trong/với thực tại, lẫn triết học (nhận thức) tức là phi thực tại. Có thể kể ra một vài giai đoạn lịch sử của ppl như cổ điển (cùng với Durkheim hay Weber và Dilthey), positivism (survey ở Mỹ thập niên 1950s) và anti-positivism (châu Âu 1960s) rồi chia nhỏ thành nhiều nhánh như xã hội học hiện tượng, ethnomethodology, hay tương tác biểu tượng.
Nghiên cứu xã hội làm việc với thực tại, tức là một ngành khoa học thực nghiệm, và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà phân thành các hướng đi riêng biệt. Khi xét tính lịch sử có thể dùng phản biện hay diễn giải. Với tính chất nhân quả thì nên phân tích loại trừ, hay cần quan sát đại diện thì áp dụng xác suất thống kê. Khi đối tượng có nhiều tầng lớp thì phương pháp nghiên cứu sẽ thiên về khảo sát cấu trúc, tổ chức, văn hoá. Nếu đánh giá tâm lý có thể đặt tình huống, tìm giá trị, xác định toan tính. Trong nghiên cứu gián tiếp sẽ cần chọn đại diện, xác định thước đo hay tìm sự thấu hiểu. Với đối tượng văn hoá cần các loại phương pháp phân tích văn bản. Kiến thức khoa học về xã hội ngày càng mang tính hữu dụng, như hoạch định xã hội và chính trị, cho nên ppl trong đó sẽ được đánh giá không chỉ bên trong ngành học mà cả bên ngoài công chúng. Nhà xã hội học biết ra khỏi phạm vi ppl chật hẹp của mình sẽ có cơ hội mở rộng không gian tri thức cho bản thân.
Cũng giống các ngành khoa học khác, ppl có hai nhánh mô tả và đánh giá, có thể kể ra các hướng đi chính: 1. Liệt kê trình tự thực hiện nghiên cứu (nc), xác định vấn đề, xây dựng định nghĩa, phân loại, giải thích, lý thuyết - sách giáo khoa thường theo mẫu này: 2. Giải trình phương pháp (pp), phát lộ giả thiết, tái dựng hoạt động nghiên cứu và phân tích quá trình tạo thành định nghĩa -> giúp kiểm tra chéo, kết hợp vài pp khác nhau của cùng hiện tượng để hiểu sự hạn chế; 3. Phân tích toàn bộ cỗ máy khái niệm của xhh, từ chức năng, nguyên do, hệ luỵ, qui luật cho tới những hệ thống tiềm ẩn hay vô thức; 4. Giải trình văn bản, phát lộ các giải thích mặc định hay vô thức, cùng quan hệ giữa các định đề, cấu trúc kết luận, đứt gãy chứng minh, tính thuyết phục của câu trả lời v.v. 5. Xây dựng bộ phương tiện nghiên cứu thực nghiệm, cũng như phân tích sách giáo khoa và kiến thức khoa học: 6. Đánh giá cách tiến hành nghiên cứu cùng chuẩn mực khoa học, từ chọn lựa vấn đề hay pp nc cho đến giá trị của dữ liệu hay cách trình bày kết quá.