Monday, May 21, 2012

He thong phuong phap


Hệ thống phương pháp nghiên cứu

Việt Thanh, tham khảo từ giáo trình phương pháp nghiên cứu của Babbie

   Sự hiểu biết của con người về thế giới được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Có người thông qua người khác truyền đạt lại và biết, có người tự mình trực tiếp chứng kiến, trải nghiệm và biết, có người chủ động tìm tòi nghiên cứu và biết. Có hai loại nhận thức, nhận thức thông thường và nhận thức khoa học. Nhận thức thông thường là những hoạt động thu nhận, hiểu biết về thế giới xung quanh thông qua những hoạt động thường xuyên hàng ngày của con người, nhận thức thông thường đem lại cho con người sự hiểu biết bề ngoài, không bản chất về sự vật và hiện tượng vì vậy kết quả của việc nhận thức thông thường thường không phản ánh đúng, đầy đủ về sự vật hiện tượng thậm chí đôi khi phản ánh sai bản chất sự việc và hiện tượng. Tuy nhiên, nhận thức thông thường đóng vai trò nền tảng, cơ sở cho nhận thức khoa học. Nhận thức khoa học khác với nhận thức thông thường là nhận thức khoa học đi sâu tìm hiểu về bản chất của sự vật hiện tượng. Kết quả nhận thức khoa học là những kiến thức chính xác, đầy đủ và toàn diện hơn về bản chất của sự vật và hiện tượng. Nhận thức khoa học khác với nhận thức thông thường ở chỗ nó có những đặc điểm riêng của nó, đó là sự nhận thức có mục đích và tuân theo những quy tắc nhất định.
Tuy nhiên sự hiểu biết của con người đến đâu là đủ đến nay chưa có ai có thể trả lời được, chỉ có biết ít biết nhiều chứ không có biết đủ. Nhận thức thông thường cũng như nhận thức khoa học đều hướng đến nhận thức đúng bản chất sự vật, hiện tượng, hiểu biết đúng quy luật của cuộc sống xã hội. Như vậy, có thể thấy không phải anh biết bao nhiêu mà anh biết như thế nào mới là vấn đề đáng quan tâm. Vậy nhận thức như thế nào, làm gì để đạt được mục tiêu trong nhận thức khoa học chính là vấn đề liên quan đến phương pháp. Phương pháp nhận biết sự vật hiện tượng, phương pháp khám phá ra những quy luật của tự nhiên và xã hội chính là yếu tố quyết định trong việc nhận thức về thế giới của con người. Phương pháp có ý nghĩa quan trọng, quyết định kết quả của quá trình nhận thức khoa học. Trong khoa học xã hội, phương pháp càng có ý nghĩa quan trọng, xác định đúng đắn phương pháp nghiên cứu và sử dụng phù hợp với từng đối tượng nghiên cứu là vấn đề quyết định sự thành công của cuộc nghiên cứu. Vậy phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội bao gồm những phương pháp nào, nó hình thành trên cơ sở nào, theo tác giả chúng ta cần tìm hiểu qua các nền tảng chung của khoa học. Theo Babbie: Khoa học đôi khi được đặc trưng hóa bằng tính logic thực tế (logico-empirical). Thuật ngữ này mang một thông điệp quan trọng: các thành phần cơ bản của khoa học là tính logic và quan sát. Cả hai thành phần này là tất yếu của khoa học và liên quan đến ba vấn đề của việc nghiên cứu trong khoa học xã hội: Lý thuyết, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu. trong đó, lý thuyết khoa học giải quyết khía cạnh logic của khoa học - cung cấp những giải thích có hệ thống - trong khi đó thu thập dữ liệu giải quyết khía cạnh quan sát. Phân tích dữ liệu là hoạt động nghiên cứu phát hiện ra những quy luật trong các cuộc quan sát và so sánh những gì được mong đợi một cách hợp lý với những gì được quan sát trên thực tế. Với những nền tảng của khoa học xã hội như trên đã cung cấp cho chúng ta cơ sở để có thể phân loại được phương pháp dùng để nghiên cứu trong khoa học xã hội hiện nay. Có thể nói chưa có công trình nào có thể thống kê đầy đủ tất cả các phương pháp nghiên cứu dùng trong khoa học xã hội. Nhưng trên cơ sở quan điểm khoa học đó, có thể khái quát hóa, phân loại phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội thành hai dạng phương pháp là các phương pháp thu thập dữ liệu (data collection) và các phương pháp phân tích dữ liệu (data analysis). Tổng hợp tất các phương pháp trong hai hệ loại như vậy hình thành nên hệ thống phương nghiên cứu khoa học xã hội hiện nay.
1. Phương pháp thu thập dữ diệu:
Các phương pháp thu thập dữ liệu nằm trong các hình thức quan sát. Bởi như đã nói quan sát chính là giải quyết vấn đề thu thập dữ liệu. Theo Babbie có năm hình thức quan sát (cả định tính và định lượng) sau đây: Thực nghiệm (Experiments); nghiên cứu khảo sát (Survey research); nghiên cứu thực tế định tính (Qualitative field research); nghiên cứu kín (Unobtrusive research); nghiên cứu đánh giá (Evaluation research). Trong các hình thức quan sát này chúng ta sẽ bắt gặp nhiều phương pháp liên quan phục vụ cho việc thu thập dữ liệu trong nghiên cứu khoa học xã hội.
1.1. Thực nghiệm:
Thực nghiệm thông thường được cho là của khoa học vật lý. Có thể thấy, thực nghiệm có tính kiểm soát cao nhất trong tất cả các phương pháp mà chúng ta sẽ kiểm tra. Hiểu về thực nghiệm rất hữu ích để nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về tính logic chung của nghiên cứu khoa học xã hội.
Phương pháp thực nghiệm về cơ bản được tiến hành với hai bước. Thứ nhất là thực hiện hành động và thứ hai quan sát kết quả của hành động đó. Các nhà nghiên cứu xã hội thường chọn một nhóm các đối tượng để tác động vào chúng và quan sát kết quả của sự tác động đó. Thực nghiệm thích hợp với các khái niệm và các vấn đề có giới hạn tương đối và được định nghĩa rõ. Thực nghiệm đặc biệt phù hợp để kiểm tra các giả thuyết bởi vì thực nghiệm tập trung làm rõ nguyên nhân. Nó cũng phù hợp với mục đích giải thích hơn là miêu tả. Thực nghiệm cũng thường được áp dụng để tiến hành nghiên cứu sự tương tác trong các nhóm nhỏ.
Chúng ta thường nghĩ rằng thực nghiệm thì diễn ra trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, ngày càng nhiều nhà nghiên cứu xã hội đã sử dụng trang Web như là công cụ để thực hiện các cuộc thực nghiệm. Bởi vì các mẫu đại diện không nhất thiết ở trong hầu hết các cuộc thực nghiệm, những người nghiên cứu có thể thường xuyên sử dụng số người tự nguyện trả lời các câu hỏi trên trang Web.
      
1.2. Khảo sát:
Khảo sát là một trong những phương pháp phổ biến nhất trong khoa học xã hội. Loại phương pháp này liên quan đến việc thu thập dữ liệu bằng cách đặc câu hỏi cho mọi người hoặc bằng bảng câu hỏi tự làm hoặc thông qua phỏng vấn, có thể được thực hiện trực tiếp mặt đối mặt hoặc thông qua điện thoại.
Khảo sát là một kỹ thuật nghiên cứu được sử dụng từ rất lâu. Ngày nay, khảo sát là một hình mẫu thường xuyên được sử dụng để quan sát trong khoa học xã hội. Trong một khảo sát tiêu biểu, người nghiên cứu phải chọn lựa một nhóm đối tượng khảo sát và đưa chọ họ bảng câu hỏi đã được chuẩn hóa theo một tiêu chí nhất định.
Khảo sát phù hợp cho các mục đích mô tả, giải thích và khám phá. Khảo sát chính thức được sử dụng trong các cuộc nghiên cứu mà có những các nhân như là những đơn vị của phân tích. Mặc dù, phương pháp này có thể được sử dụng cho các đơn vị của phân tích khác như các nhóm, các mối tương tác hoặc những cá nhân đóng vai trò là đối tượng phản ứng hoặc người cung cấp thông tin. Khảo sát có thể là phương pháp tốt nhất cho các nhà nghiên cứu xã hội thích thú đối với việc thu thập những dữ liệu gốc cho việc mô tả tình hình dân số quá rộng lớn đến nổi không thể quan sát trực tiếp. Khảo sát cũng là dụng cụ tuyệt vời để đo lường thái độ, định hướng của một khối dân số rộng lớn.
Các hình thức thực hiện khảo sát bao gồm: Phỏng vấn bằng điện thoại không có hoặc có sự hổ trợ của máy tính; khảo sát trực tuyến; phương pháp phân tích lần thứ hai: Là một hình thức của việc nghiên cứu trong đó những dữ liệu được thu thập và xử lý bởi một người nghiên cứu được phân tích lại bởi một người khác.
      
1.3 Nghiên cứu thực tế định tính:
Nghiên cứu thực tế định tính hình thức tự nghiên nhất của việc thu thập dữ liệu được sử dụng bởi các nhà khoa học xã hội: Quan sát trực tiếp các hiện tượng xã hội trong bối cảnh tự nhiên của nó. Như bạn thấy, một vài nhà nghiên cứu đi xa hơn không chỉ là quan sát để tham gia vào những gì họ đang nghiên cứu, bởi vì họ muốn quan sát gần gũi hơn và hiểu biết sâu hơn về nó.
Về mặt nghĩa, chúng ta làm nghiên cứu thực tế bất cứ khi nào chúng ta quan sát hoặc tham gia vào các hành vi xã hội và cố gắng hiểu chúng có thể là trong lớp học, trong phòng đợi của bác sĩ, hoặc trên máy bay. Bất cứ khi nào chúng ta tường thuật sự quan sát của chúng ta với người khác, chúng ta đang thực hiện báo cáo về những nỗ lực nghiên cứu thực tế của chúng ta. Nghiên cứu thực tế sản sinh ra dữ liệu định tính: Quan sát không dễ định lượng hóa thành con số. Trong nghiên cứu thực tế định tính chú ý đến các vai trò khác nhau của người quan sát; mối quan hệ với đối tượng khảo sát.
Một số mẫu nghiên cứu thực tế định tính:
Mẫu tự nhiên. Một cách tiếp cận của nghiên cứu thực tế định tính được dựa trên giả định rằng thực tế khách quan tồn tại và có thể được quan sát và được tường thuật một cách chính xác.
Enothnomethodology: Cách tiếp cận này nghiên cứu về cuộc sống xã hội, tập trung khám phá những điều ẩn chứa bên trong nó, thường xuyên là những giả định hoặc những thỏa thuận ngầm; phương pháp này liên quan đến việc khai phá những giả định hoặc thỏa thuận như cách thức để chứng minh sự tồn tại của chúng.
Thuyết nền tảng: Phương pháp tiếp cận quy nạp đối với việc nghiên cứu cuộc sống xã hội để xây dựng lý thuyết từ việc so sánh thường xuyên những cuộc quan sát mở rộng. Điều này khác với việc kiểm tra giả thuyết mà trong đó lý thuyết dùng để xây dựng giả thuyết được kiểm tra thông qua quan sát. Những quy tắc để thực hiện lý thuyết nền tảng: Suy nghĩ trong mối quan hệ so sánh với nhau; chấp nhận những quan điểm đa dạng; quay lại các bước một cách thường xuyên; duy trì một thái độ nghi ngờ; tuân theo những quy trình nghiên cứu.
Nghiên cứu tình huống (case study): tập trung vào một tính huống đơn lẽ của các hiện tưởng xã hội như làng mạc, gia đình, nhóm phạm tội. Tình huống vẫn còn nhiều tranh cải, chưa thống nhất. Có người cho rằng tình huống có lẽ nên là một giai đoạn thời gian hơn là một nhóm người đặc biệt nào đó. Những hạn chế của việc chú ý đến những ví dụ đặc biệt của một cái gì đó là đặc tính tất yếu của nghiên cứu tình huống. Những cuộc nghiên cứu tình huống có thể tạo nền tảng cho việc phát triển những lý thuyết có tính khái quát hơn. Phương pháp nghiên cứu tình huống mở rộng có mục đích khám phá những thiếu sót và bổ sung, hoàn thiện những lý thuyết xã hội đang tồn tại.
Trong khi những nhà nghiên cứu theo trường phái nền tảng tiếp cận vấn đề nghiên cứu với lúc ban đầu là chưa có khái niệm về những gì họ sẽ tìm trong nghiên cứu, Burawoy đề nghị theo hướng ngược lại: Có gắng hiểu rõ những gì sẽ tìm trong nghiên cứu trong khả năng của mình càng chắc càng tốt trước khi bước vào nghiên cứu. Burawoy xem phương pháp tình huống được mở rộng như một cách thức để dựng lại hoặc cải tiến lý thuyết thay vì ủng hộ hoặc chống đối. Do đó ông đã tìm tất cả các cách thức mà trong đó quan sát mâu thuẫn với những lý thuyết đang tồn tại và những gì mà ông ấy gọi là những khoảng lặng và khoảng trống lý thuyết. Định hướng này đối với nhà nghiên cứu thực tế định tính ngụ ý rằng biết trước thật sự là điều tất yếu đối với Burawoy trong khi đó những nhà lý thuyết nền tảng lo lắng việc biết những gì người khác đã kết luận có thể ảnh hưởng đến việc quan sát và lý thuyết của họ.
Dân tộc học tổ chức: Là một kỹ thuật nghiên cứu, trong đó những kinh nghiệm riêng của các cá nhân được sử dụng để khám phá những mối quan hệ quyền uy và những đặc tính khác của các tổ chức mà các cá nhân hoạt động ở trong tổ chức đó. Các nhà dân tộc học tổ chức bắt đầu bằng những kinh nghiệm cá nhân, tiến đến khám phá các quan hệ quyền uy tổ chức mà hình thành và điều khiển những kinh nghiệm đó. Trong quá trình này, người nghiên cứu có thể khai phá những khía cạnh của xã hội mà bị bỏ lỡ bởi các cuộc điều tra bắt đầu với những mục đích chính thức của tổ chức. Cách tiếp cận này liên kết cấp độ vi mô của những kinh nghiệp cá nhân hàng ngày với mức độ vĩ mô của các tổ chức.
Nghiên cứu qua hoạt động tham gia: Một cách tiếp cận với nghiên cứu xã hội mà trong đó những người được nghiên cứu được đưa ra ý kiến về mục đích và các quy trình của việc nghiên cứu.

1.4 Nghiên cứu kín (Unobtrusive Research): Phương pháp nghiên cứu các hành vi xã hội mà không tác động lên nó. Những phương pháp này có thể là định tịnh hoặc định lượng.
Ba hình thức thu thập dữ liệu kín sử dụng dữ liệu có sẵn xung quanh chúng ta. Ví dụ, phân tích nội dung là một phương pháp thu thập dữ liệu xã hội thông qua việc xác định và đánh giá những thứ do con người tạo ra như sách, bài hát, bài thuyết trình, tranh. Không làm bất kỳ một cuộc tiếp xúc cá nhân nào với con người, bạn có thể sử dụng phương pháp này để kiểm tra, xem xét hàng loạt các sự kiện xã hội. Những tài liệu lịch sử là nguồn có giá trị cho phân tích khoa học xã hội.
Phân tích nội dung: Là nghiên cứu về các giao tiếp đã được thiết lập của con người. Trong số hình thức thích hợp cho việc nghiên cứu là sách, báo, web, bài thơ, tạp chí, bài hát, tranh ảnh, các bài thuyết trình, thư, tin nhắn emai, các thông báo trên Internet, luật và hiến pháp cũng như bất kỳ thành phần nào hoặc các bộ sưu tập của những cái đã đề cập ở trên.
Trong phân tích nội dung cần phải chú ý đến việc tạo mẫu. Chúng ta có thể áp dụng những kỹ thuật tạo mẫu thông thường được bàn ở chương 7. Chúng ta có thể chọn một mẫu ngẫu nghiên hoặc mẩu có hệ thống các tiểu thuyết gia của Mỹ và Pháp…
Tạo mẫu phân tầng cũng thích hợp cho phân tích nội dung. Để phân tích chính sách biên tập của tạp chí Mỹ chẳng hạn chúng ta có thể đầu tiên nhóm tất cả tạp chi theo khu vực của đất nước hoặc theo kích cỡ của cộng đồng trong đó tạp chí được xuất bản hoặc quay vòng tuần hoàn. Sau đó, chúng ta có thể chọn mẫu ngẫu nhiên phân tằng hoặc mẫu hệ thống các tạp chí để phân tích.
Tạo mẫu nhóm cũng phù hợp với phân tích nội dung. Thực sự, nếu những bài báo biên tập cá nhân là những đơn vị phân tích của chúng ta thì sau đó việc chọn các tạp chí trong giai đoạn đầu tiên của việc tạo mẫu là mẫu nhóm. Trong một phân tích các bài nói chuyện chính trị, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc chọn mẫu các nhà chính trị; mỗi nhà chính trị có thể sẽ trình bày một nhóm các bài nói về chính trị.
Cần phải nhắc lại rằng việc tạo mẫu chưa cần kết thúc khi chúng ta tìm được đơn vị phân tích. Nếu các tiểu thuyết là đơn vị phân tích thì chúng ta có thể chọn một mẫu về các nhà tiểu thuyết và một nhóm phụ các đoạn văn trong mỗi cuốn tiểu thuyết. Sau đó, chúng ta sẽ phân tích nội dung của các đoạn văn vì mục đích mô tả chính các cuốn tiểu thuyết đó.
Về việc mã hóa trong phân tích nội dung: Phân tích nội dung một cách tất yếu là hoạt động mã hóa. Mã hóa là quá trình chuyển đổi các tài liệu thô sang một hình thức được chuẩn hóa. Trong phân tích nội dung, các liên lạc – bằng các hình thức nói, viết hoặc bàng hình thức khác – được mã hóa hoặc được phân loại theo một vài khung khái niệm. Như vậy, ví dụ các bài báo biên tập trong tạp chí có thể được mã hóa theo dạng thức là tự do hoặc bảo thủ. Các tiểu thuyết thì lãng mạn hay không… Nhớ rằng vì những thuật ngữ như trên phụ thuộc nhiều vào sự phân tích nên nhà nghiên cứu phải xác định rõ ràng các định nghĩa.
Mã hóa trong phân tích nội dung liên quan đến tính logic của khái niệm hóa và hoạt động hóa. Có hai hình thức mã hóa là nội dung rõ ràng liên quan đến thuật ngữ được biểu hiện trong giao tiếp và nội dung ẩn liên quan đến nghĩa của giao tiếp.
Phân tích dữ liệu định tính: Không phải tất cả phân tích nội dung dẫn đến việc định lượng hóa được. Đôi khi một đánh giá định tính về các tài liệu là thích hợp nhất.
Điểm mạnh và yếu của phân tích nội dung: Điểm thuận lợi nhất của phân tích nội dung là tính kinh tế của nó cả về thời gian và tiền bạc.Không có đòi hỏi nào cho các nhân viên nghiên cứu; không có dụng cụ đặc biệt nào được yêu cầu. miễn là bạn có thể tiếp cận được các tài liệu được mã hóa, bạn có thể thực hiện phân tích nội dung. Phân tích nội dung cũng có thuận lợi trong việc cho phép sửa các lỗi. Nếu bạn khám phá ra rằng bạn đã làm hỏng một cuộc khảo sát hoặc một cuộc thực nghiệm bạn có thể được yêu cầu lập lại toàn bộ dự án nghiên cứu với tất cả những chi phí về thời gian và tiền bạc thực hiện của nó. Nếu bạn làm hỏng nghiên cứu thực tế của bạn thì có lẽ không thể làm lại dự án; các sự kiện theo cuộc nghiên cứu có thể không tồn tại nữa. Trong phân tích nội dung, thường xuyên dễ dàng lập lại một phần của nghiên cứu hơn các phương pháp nghiên cứu khác. Hơn nữa, bạn có thể được yêu cầu mã hóa lại chí một phần dữ liệu của bạn hơn là tất cả dự liệu. Thuận lợi thứ ba của phân tích nội dung là nó cho phép cuộc nghiên cứu có thể kéo dài một thời gian dài. Cuối cùng phân tích nội dung có các lợi thế của tất cả biện pháp nghiên cứu kín, chính xác là phân tích nội dung hiếm khi có bất kỳ tác động nào lên các đối tượng được nghiên cứu. Bởi vì các tiểu thuyết đã được viết rồi, tranh được vẽ rồi, các bài nói đã được trình bày phân tích nội dung không tác động lên chúng.

1.4.2 Phân tích thống kê hiện hành: Phân tích số liệu thống kê hiện hành giới thiệu một phương pháp khác nghiên cứu về con người mà không phải nói chuyện hoặc tiếp xúc với họ. Các chính phủ và một loạt tổ chức tư nhân thường xuyên thực hiện hàng loạt cuộc thống kê các dữ liệu mà chúng ta có thể sử dụng với một ít mà không cần bổ sung thêm để trả lời hợp lý những câu hỏi được đặt ra. Các nguồn của thống kê hiện hành rất đa dạng, phong phú.

1.4.3 Nghiên cứu lịch sử và so sánh: Phương pháp nghiên cứu nhờ so sánh mà vạch ra cái chung và cái đặc thù trong các hiện tượng lịch sử, trình độ phát triển và xu hướng phát triển của các hiện tượng ấy. Các hình thức của PPSS - LS gồm: phương pháp đối chiếu (vạch ra bản tính của các khách thể khác loại); so sánh loại hình lịch sử (giải thích sự giống nhau của các hiện tượng khác nhau về nguồn gốc lịch sử); so sánh nguồn gốc phát sinh (giải thích sự giống nhau của các hiện tượng với tính cách là kết quả của sự tương tự về nguồn gốc phát sinh); so sánh trong đó ghi lại ảnh hưởng lẫn nhau của các hiện tượng khác nhau. PPSS - LS được công nhận rộng rãi từ thế kỉ 19 và được áp dụng trong các khoa học khác nhau như sử học,ngôn ngữ học, dân tộc học, luật học, vv. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các hình thái kinh tế - xã hội, các kiểu kiến trúc kinh tế và chính trị khác nhau của cùng một hình thái, các phong trào xã hội và các hệ tư tưởng.
Trong ngôn ngữ, PPSS - LS nhằm phát hiện những mối quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ và nghiên cứu sự phát triển của chúng. Dựa trên các cứ liệu ngôn ngữ đồng đại, nhờ PPSS - LS, người ta có thể phục nguyên được các trạng thái của các ngôn ngữ cụ thể ở những giai đoạn trước khi chưa có chữ viết, những quá trình biến đổi của các ngôn ngữ, từ một ngôn ngữ gốc, giả định, xây dựng nên các giả thuyết về cội nguồn ngôn ngữ cũng như xác lập các họ ngôn ngữ và tiến trình phát triển của từng ngôn ngữ, từng hiện tượng ngôn ngữ cụ thể. PPSS - LS được sử dụng có kết quả vào việc nghiên cứu các ngôn ngữ Ấn - Âu và đã thúc đẩy sự phát triển của ngành ngôn ngữ học.
Có rất nhiều tài liệu có sẵn trong nghiên cứu lịch sử. Nguồn tài liệu của nghiên cứu lịch sử so sánh rất đa dạng phong phú tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu. Vì dụ, để nghiên cứu về quá trình di cư của người Phần Lan đến Mỹ thì nguồn tài liệu có thể là những bức thư của những người di cư Phần Lan đến Mỹ gửi về cho gia đình họ, người khác thì nghiên cứu nhật ký của họ; hoặc khi nghiên cứu về một tổ chức nào đó có thể nghiên cứu các bài nói chuyện của lãnh đạo tổ chức, các quy tắc, các chính sách của tổ chức.
Tuy nhiên, bất kỳ nguồn nào chúng ta sử dụng cần chú ý trình tự hai vấn đề sau: (1) Như chúng ta thấy trong trường hợp là những tài liệu thống kê hiện hành chúng ta không thể tin ngày vào độ chính xác của nó – chính thức hoặc không chính thức; cái đầu tiên hay cái thứ hai. Việc kiểm tra nằm trong tính lặp lại. Trong trường hợp nghiên cứu thuộc về lịch sử điều đó có nghĩa là sự bổ sung. Nếu vài nguồn khác đều dẫn đến kết quả tương tự, bạn có thể có lý do tin tưởng vào sự chính xác của tài liệu.
Cùng với đó, bạn cần có những thái độ khác nhau về nguồn tài liệu của bạn. Nếu tất cả tài liệu của bạn về sự phát triển của một phong trào chính trị được lấy ra từ phong trào đó, bạn không thể thu được những quan điểm khác nhau về nó. Những cuốn nhật ký của tầng lớp thượng lưu thời trung cổ có thể không đưa cho bạn một cái nhìn chính xác về cuộc sống nói chung trong suốt quãng thời gian đó. Bất cứ nơi nào có thể, thu được tài liệu từ các nguồn khác nhau sẽ cho chúng ta những quan điểm khác nhau về vấn đề cần nghiên cứu, như vậy sẽ chính xác hơn, toàn diện hơn.

1.5. Nghiên cứu đánh giá:
Nghiên cứu đánh giá, xem xét những khía cạnh khác đang phát triển nhanh chóng trong khoa học xã hội, bao gồm ứng dụng các kiểu thực nghiệm hoặc tương tự như thực nghiệm để kiểm tra các sự can thiệp xã hội trong cuộc sống thực tế. Bạn có thể sử dụng nghiên cứu đánh giá để kiểm tra tính hiệu quả của chương trình tái hòa nhập sau khi nghiện thuốc hoặc tính khả thi của việc xây dựng căn tin mới trong trường học.

2. Phương pháp phân tích dữ liệu:
Trong phần này của cuốn sách, chúng ta sẽ thảo luận phân tích về các dữ liệu nghiên cứu xã hội và chúng ta sẽ xem xét các bước mà tách rời quan sát khỏi việc báo cáo cuối cùng về những gì tìm được. Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét nhiều vấn đề cơ bản trong nghiên cứu xã hội áp dụng cả hai loại dữ liệu định tính và định lượng. Tuy nhiên, phân tích định tính và phân tích định lượng khá khác nhau và sẽ được bàn luận riêng.
Những khó khăn hoặc thuận lợi của việc xây dựng những phân tích dữ liệu chất lượng cao như được thể hiện như sau: 1 là dễ nhất để thực hiện và 4 là khó nhất.
(1) Tương đối dễ dàng để thực hiện một vài quan sát về cuộc sống xã hội và dự đoán về ý ngĩa của những gì được quan sát. Thật không may mắn, những dự đoán như vậy không đòng góp nhiều vào sự hiểu biết cuộc sống xã hội của chúng ta.
(2) Thực hiện những phân tích dữ liệu đơn giản thì khó khăn hơn bởi vì nó yêu cầu ít nhất một vài kỹ năng thống kê ở cấp thấp. Tuy nhiên, rất thường xuyên chúng ta phải đối mắt với những phân tích dữ liệu thống ke mà thật sự không nhiều ý nghĩa. Những thuật ngữ như quantiphrenia và chủ nghĩa khoa học thỉnh thoảng được sử dụng để bắt chước khoa học vật lý mà không có ý nghĩa thật sự nào.
(3) Thực hiện những phân tích dữ liệu định lượng phức pháp thật sự có ý nghĩa yêu cầu nhiều sự suy nghĩ và trí tưởng tượng. Tuy nhiên, nó không cần thiết những thống kê có sức mạnh lớn như trong công việc của Paul Lazarsfeld và Sam Stouffer chỉ ra. Những gì được đặt ra là sự sẵn sàng để nghiên cứu và khả năng để nhận ra những quy luật có ý nghĩa trong số các biến số. Mặc dù, nhiều kỹ thuật được hình thành cho phân tích định tính là những công cụ có sức mạnh để sử dụng trong việc nghiên cứu, nhưng những khám phá có sức mạnh thật sự chưa bao giờ được sinh ra bởi  việc sử dụng một cách thuộc lòng những kỹ thuật.
(4) Nhiệm vụ khó khăn nhất cho các nhà nghiên cứu xã hội nằm ở việc sản sinh ra những phân tích có sức mạnh về dữ liệu định tính. Điều này yêu cầu sự cống hiến và khả năng như đã đề cập ở (3); tuy nhiên phân tích định tính tùy thuộc nhiều hơn vào kiến thức, sự hiểu biết cá nhân của nhà nghiên cứu hơn là tùy thuộc vào công cụ có sẵn để hổ trợ phân tích. Phân tích định tính ngày nay vẫn là một nghệ thuật như khoa học.
2.1 Phân tích dữ liệu định tính.
Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét một vài nền tàng lý thuyết cho cách tiếp cận này. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét một vài quy trình khái niệm mà bạn nên sử dụng trong việc tìm kiếm ý nghĩa trong số các dữ liệu định tính. Tôi sẽ minh hoạ một vài chương trình máy tính mà được tạo ra một cách đặc trưng cho phân tích dữ liệu định tính. Gần kết luận của chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu một vài nổ lực để tạo ra những tiêu chuẩn cho việc đánh giá chất lượng của nghiên cứu định tính.
2.2 Phân tích dữ liệu định lượng:
 Chúng ta sẽ bắt đầu với việc nghiên cứu những phương pháp phân tích và thể hiện dữ liệu liên quan đến một biến số đơn. Sau đó chúng ta sẽ chuyển đến mối quan hệ giữa hai biến số và học cách làm thế nào để xây dựng và đọc những bảng phần trăm đơn giản. Chương này kết thúc với việc xem trước phân tích đa biến và một cuộc thảo luận về những chẩn đoán xã hội học cùng với xem xét những tiêu chuẩn về mặt đạo đức.
2.3 Mô tả chi tiết (Elaboration Model)
Chúng ta sẽ xem xét sâu hơn về phân tích đa biến. Chương 15 cũng trình bày tính logic của việc phân tích thông thường thông qua việc sử dụng các bảng phần trăm. Chúng ta sẽ áp dụng tính logic tương tự khi chúng ta sử dung các kỹ thuật thống kê khác trong chương 16. Kiểu logic này được phát triển cho việc sử dụng với dữ liệu định lượng nhưng tôi nghĩ bạn sẽ thấy nó cũng hợp lý như thế nào cho việc lập luận với những dữ liệu định tính.
2.4 Phân tích thống kê (Statistical Analyses)
Thường xuyên được sử dụng hơn trong nghiên cứu khoa học xã hội, bao gồm tổng quan về một vài phương pháp tiên tiến hơn về phân tích đa biến. thay vì chỉ bày cho bạn biết làm thế nào để tính toán thống kê với các phương pháp này, tôi đã cố gắng đặt chúng vào trong ngữ cảnh của các cuộc thảo luận về logic và lý thuyết trước đó. Vì thế, bạn nên sẽ rời khỏi chương này biết khi bào sử dụng các đo lường thống kê khác nhau cũng như làm thế nào để đếm chúng.


Sunday, May 20, 2012


Lựa chọn đề tài nghiên cứu
Nguyễn Hoàng Mỹ Phương dịch(*), 2012

Đây là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn ở bậc thạc sĩ. Nếu lựa chọn đề tài không có kế hoạch kỹ càng thì có thể bạn sẽ phải đối mặt với rủi ro không có đủ thời gian để hoàn thành luận văn theo thời hạn. Nếu bạn ra quyết định với một lựa chọn kém thì sẽ khó mà đạt điểm cao theo thang điểm tiêu chuẩn. Những đề nghị dưới đây có thể giúp bạn tối thiểu hóa xảy ra tình huống vừa kể trên.

Tiêu chí lựa chọn một đề tài

Hứng thú và hợp thời (relevant)

Bạn nên lựa chọn đề tài nào nào gây hứng thú và có thể tạo nên niềm say mê trong bạn. Nếu không, có thể bạn sẽ gặp khó khăn để duy trì động lực và sự cam kết cần thiết để hoàn tất luận văn. Đề tài này cũng có thể là mối quan tâm của những người ở bên ngoài. Đề tài có thể của chính phòng ban hoặc tổ chức bạn đang làm việc, cũng có thể là một công việc hay việc kinh doanh rộng hơn hay là của cộng đồng quản lý.

Thỉnh thoảng thì cũng xảy ra trường hợp sếp hoặc tổ chức bạn đang làm việc muốn bạn nghiên cứu một đề tài mà bạn chẳng có chút hứng thú nào cả. Nếu điều đó xảy ra, bạn nên thảo luận tình huống này với người hướng dẫn của bạn.

Tính lâu bền

Dự án sẽ kéo dài cho đến hết chương trình học? Các tổ chức có thể thực hiện những thay đổi về phướng hướng và chính sách cực kỳ nhanh chóng. Đề tài bạn chọn có thể lỗi thời bởi những thay đổi trong chiến lược của tổ chức, hình thức sở hữu hay những sự kiện nào đó khác. Hãy cố gắng chọn chủ đề sẽ vẫn còn hợp thời trong thời gian khoảng 1 năm.

Độ rộng của các câu hỏi nghiên cứu

Có đủ “chất liệu” cho đề tài của bạn?

Đôi khi xảy ra tình huống là đề tài quá nhỏ, không đủ để duy trì việc nghiên cứu ở mức độ thạc sĩ. Và cũng đôi khi đề tài lại quá rộng và bạn sẽ thấy mình bơi giữa đại dương mênh mông mà không thấy đâu là bờ bến. Điều quan trong ở đây là cân nhắc xem đề tài đòi hỏi thời gian như thế nào và nguồn tài nguyên (energy) sẵn có để hoàn tất dự án này.

Tính đầy đủ (adequacy) của đề tài

Hãy kiểm tra lại những tiêu chuẩn đánh giá áp dụng cho khóa học của bạn, bởi vì công trình của bạn sẽ được tính điểm dựa vào những tiêu chuẩn này, và tự hỏi bản thân xem liệu đề tài bạn suy nghĩ trong đầu có giúp bạn đáp ứng tốt những tiêu chuẩn này hay không.

Khả năng tiếp cận

Có thể bạn đã có trong đầu một đề tài xuất sắc,  nhưng với điều kiện là bạn có thể tiếp cận được với những người mà họ có thể trả lời các câu hỏi nghiên cứu, hay bảng câu hỏi, cuộc phỏng vấn…. Nếu không tiếp cận được thì khi đó, dự án nghiên cứu của bạn có thể vẫn chỉ là trong đầu mà thôi. Thậm chí nếu bạn nghĩ là những người này nhìn chung thì đã đồng ý cho bạn tiếp cận rồi đó, nhưng còn thời gian và nỗ lực cần thiết để theo đuổi việc tiếp cận này thì sao? Có quá đòi hỏi nhiều hay không? Nếu như công trình nghiên cứu của bạn thực hiện ngay tại tổ chức mà bạn đang làm việc, thì vấn đề này có thể không ảnh hưởng lớn lắm. Nhưng nếu bạn cần phải nghiên cứu những tổ chức khác, bạn nên chắc chắn rằng bạn có thể tiếp cận được. Thậm chí là bạn muốn gởi những bảng câu hỏi đến một mẫu (sample) các nhà quản lý, bạn có thể gặp vấn đề làm thế nào để có được danh sách tên và địa chỉ của họ. Danh sách tên và địa chỉ này đôi khi bạn phải trả tiền mới có.

Những vấn đề chính trị ở phạm vi vi mô (micro-politics)

Bất kỳ khi nào bạn nghiên cứu một vấn đề kinh doanh thì cũng tồn tại nguy cơ là bạn có thể trở thành người ủng hộ các tranh luận quản lý và chính trị xoay xung quanh nó. Điều này càng trở nên quan trọng hơn nếu bạn đang nghiên cứu một đề tài bên trong tổ chức của bạn đang làm việc. Bạn cần phải chắc chắn rằng theo đuổi dự án này sẽ không lôi bạn vô nồi nước chính trị nóng bỏng mà một số người nào đó trong tổ chức có thể gây hại đến bạn. Thỉnh thoảng thì mọi người chọn làm đề tài không liên quan đến nơi họ đang làm việc bởi các vấn đề “nhạy cảm” trong tổ chức của họ (sự thôn tính (takeover) sắp xảy ra, các cuộc chiến trong phòng họp ban giám đốc…). Theo họ thì chúng quá nguy hiểm.

Rủi ro và an toàn

Hãy nhớ lại những tiêu chuẩn đã nêu ở trên, bạn thấy đó, bạn không thể tránh được tất cả các rủi ro. Nếu chọn một đề tài hoàn toàn an toàn, có thể quá nhạt nhẽo khiến bạn hoặc người khác không có tí hứng thú nào đối với các kết quả nghiên cứu. Dò được điểm cân bằng giữa rủi ro và an toàn là điều nên làm.

Nguồn tài liệu

Đảm bảo rằng có đủ các tài liệu có liên quan (literature) về đề tài bạn đang nghiên cứu, hoặc phạm vi học thuật rộng hơn mà đề tài bạn nằm trong đó. Như thế, giúp bạn có thể thực hiện được việc xem xét các tài liệu có liên quan (literature review[1]). Mà đây không phải là điều gì quá nghiêm trọng khiến bạn phải lo lắng, điều đáng lo lắng ở đây là có quá nhiều tài liệu để bạn đọc.

(*) Colin Fisher (2007), "Researching and writing a dissertation - A guide book for business students", trang 31-33.


[1] Tham khảo thêm tại http://www.facebook.com/note.php?note_id=10150769616837403

Monday, March 12, 2012

Giai phap thoi gian

Vài giải pháp giúp bạn xếp hạng xử lý công việc

ThS Nguyễn Hoàng Mỹ Phương


Nguyên tắc Pareto

Nguyên tắc Pareto (hay nguyên tắc 80/20) nói rằng, đa số các trường hợp, 80% kết quả là do 20% nguyên nhân. Chẳng hạn, 80% doanh số bán hàng là từ 20% khách hàng, hay 80% lợi nhuận đến từ 20% thời gian mà bạn sử dụng, 80% doanh số bán hàng đến từ 20% số sản phẩm của công ty bạn…

Nguồn: http://www.managers-net.com/paretoanalysis.html

Thành ra, giả sử bạn liệt kê ra 10 việc cần làm trong ngày, nếu nguồn lực hạn hẹp (thời gian, công sức, tiền bạc…) thì có thể chọn làm 2 việc quan trọng nhứt (chiếm 20% số lượng công việc) nhưng mang lại 80% cho kết quả làm việc hôm đó.

Nguồn: http://www.effective-time-management-strategies.com/time-management-activities.html

Phân tích ABC

Còn quýnh giá công việc thế nào là quan trọng thì có thể sử dụng phân tích ABC.

Phương pháp này phân loại công việc như sau: việc quan trọng và khẩn cấp (A), việc quan trọng và không khẩn cấp (B), việc không quan trọng cũng không khẩn cấp luôn (C).

Tuy nhiên, có lần đọc đâu đó lập luôn cái ma trận rồi đặt các công việc vào đấy, dễ hiểu hơn. Như hình ở đây nè.

Nguồn: http://www.positive-change-tools-for-success.com/Time-Management-Matrix.html

Công việc nếu không lập kế hoạch và thực hiện tốt sẽ chạy từ ô (2) sang ô (1) – sẽ rất mệt đầu vì tâm trạng lúc nào cũng căng thẳng, vì vừa khẩn cấp mà lại vừa quan trọng mà. Ô (3) thì nên ngó lại 80/20, coi chừng cả ngày cuống theo vô vàng công việc không quan trọng mà lúc nào cũng bị hối thúc, cứ tưởng là làm nhiều thì tốt, nhưng thật ra nó chỉ đóng góp 20% vào kết quả chung mà thôi.

Nói chung, ô (2) là ô cần tập trung nhứt.

Phân tích XYZ

Phân tích XYZ là phân tích thứ cấp của phân tích ABC. Phân tích XYZ áp dụng cho việc quản lý hàng tồn kho nhưng ở đây mình tự chuyển sang cách hiểu quản lý công việc luôn. Hy vọng là hiểu đúng hihi :D

Trong đó, X là công việc không hoặc ít thay đổi theo thời gian, nên có thể dự đoán được. Y là công việc chỉ xuất hiện vào một giai đoạn nào đó. Z là công việc không xuất hiện thường xuyên.

Nếu ABC phân loại dựa vào giá trị công việc, XYZ lại dựa vào tần suất xuất hiện; và 2 cái phân tích này thường được dùng đồng thời.

Ví dụ, công việc CX (không quan trọng và không khẩn cấp + xuất hiện thường xuyên) thì nên hạn chế, vì chẳng mang lại kết quả nào vào mục tiêu đã định trước. Xem hình minh họa ở đây (hình áp dụng cho hàng tồn kho).

Nguồn: http://www.ak-online.biz/en/NewsEvents/releases/2004/3/1

Nguồn tham khảo:

http://en.wikipedia.org/wiki/Pareto_principle

http://en.wikipedia.org/wiki/ABC_analysis

http://wikieducator.org/Xyz_analysis

Saturday, January 7, 2012

The Four Feathers

Tính cách Anh qua tiểu thuyết The Four Feathers
Việt Thanh

Để hiểu văn hóa Anh mà cụ thể là chủ nghĩa anh hùng cá nhân, chúng ta có thể tìm đọc các tác phẩm văn học, bởi đó chính là những sản phẩm phản ánh đời sống văn hóa của con người. Nền văn học Anh có nhiều tác phẩm thể hiện đề tài này và một trong nhiều tác phẩm đó - phản ánh hiện thực anh hùng của người Anh - là tiểu thuyết The Four Feathers (Tạm dịch là Bốn cọng lông gà hay thoát nghĩa hơn là Kẻ hèn nhát) của nhà văn A.E.W Mason, được xuất bản năm 1902 và nhân vật Harry Feversham trong tác phẩm là hình tượng biểu trưng rõ nét khi xem xét phẩm chất anh hùng. Tác phẩm là nguồn cảm hứng lớn cho các đạo diễn điện ảnh trong nhiều năm qua; từ năm 1915 đến nay có bảy lần tác phẩm được dựng thành phim.

The Four Feathers là tiểu thuyết của A.E.W Mason (1865-1948) được xuất bản vào năm 1902. Nội dung kể về một người lính tên là Harry Feversham từ chối nhận nhiệm vụ lên đường đến Sudan, Ai Cập, trong bối cảnh xã hội nước Anh vào thời năm 1882. Harry không chịu nhập ngũ nên ba người bạn đã tặng cho anh ba chiếc hộp, mỗi hộp có chứa một chiếc lông gà màu trắng - biểu tượng cho sự hèn nhát. Đau đớn hơn cho Harry bởi chiếc lông màu trắng thứ tư lại đến từ Ethne, người yêu của Harry. Ngoài ra, cha của Harry cũng từ bỏ anh vì ông không chấp nhận một người con hèn nhát. Để lấy lại danh dự cho mình và tìm lại sự kính trọng từ mọi người, Harry đã bí mật sang Sudan, Ai Cập và tìm cách trà trộn vào bên quân địch để cứu những người bạn của mình và giúp quân đội Anh. Cuối cùng Harry trở về trong niềm vui chiến thắng, được mọi người ca ngợi và tìm lại được chính tình yêu của mình.

Xét đến phẩm chất anh hùng của Harry, đặt trong bối cảnh xã hội thời đó với những quan niệm, những tập quán, truyền thống và với vai trò vị trí của một người lính, việc Harry Feversham từ chối quân lệnh ra trận chiến trường là một hành động bị xem là hèn nhát, bị xã hội lên án, ruồng bỏ. Kế cả những người thân yêu nhất cũng không thể vượt qua được những định kiến xã hội đó. Tuy nhiên, có phải Harry Feversham từ chối không ra chiến trường là vì sợ, vì lợi ích riêng của mình hay Harry cho rằng điều đó không đáng để mình phải làm, phải quan tâm, phải hy sinh trong khi đó tài năng, tình yêu và tương lai tươi sáng của Harry trong quân đội đang ngày càng thăng tiến? Trong bối cảnh xã hội đó, việc dám từ chối một giá trị đã được khẳng định có phải là hành động hèn nhát?

Những người lính Anh thời đó gần như họ không đặt câu hỏi hành động chiến đấu của họ là vì cái gì. Vì đất nước, vì Nữ hoàng hay một giá trị nào đó? Họ không nghi ngờ về điều gì cả, chỉ biết khi có mệnh lệnh là họ sẵn sàng lên đường, và họ tự hào về điều đó. Ngược lại với Harry, anh đã không thể không nghĩ, anh đã nghi ngờ về một điều gì đó. Hẳn là sự mâu thuẫn trong nội tâm của Harry đã diễn ra sâu sắc và anh đã đưa ra quyết định. Thế một hành động dám vượt qua tất cả những định kiến của thời cuộc có phải là hành động hèn nhát? Có lẽ đây còn đang là đề tài tiếp tục được tranh cãi, bàn luận từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Thế nhưng xét trên bình diện chung, những đặc trưng của một anh hùng, của văn hóa anh hùng, phẩm chất anh hùng vẫn cho chúng ta khẳng định được đó là hành động anh hùng. Vì hành động đó, không phải xuất phát từ những gì mang tính ngẫu nhiên mà nó là quá trình đấu tranh tư tưởng, là sự nhận thức thời cuộc và năng lực bản thân của con người.

Điều này càng thể hiện rõ hơn trong những diễn biến của câu chuyện. Harry bị xã hội lên án, bị bạn bè dèm pha và người yêu, người thân từ bỏ. Không được ai chia s cùng mình những suy nghĩ nội tâm, cuối cùng Harry quyết định chứng minh rằng sự hèn nhát không có trong con người của anh, theo cách riêng của anh, đáp trả lại tất cả định kiến xã hội đối với anh. Và Harry đã làm được điều đó. Chiến thắng tất cả, quay về trong ánh hào quang chiến thắng của một người anh hùng. Những giá trị phẩm chất anh hùng đã thể hiện đan xen qua nhiều cung bậc tình cảm khác nhau của Harry. Từ tình yêu, tình bạn cho đến nghĩa vụ với đất nước, với quân đội và với con người. Rõ ràng giá trị văn hóa đó chỉ chứa đựng ở những con người có phẩm chất anh hùng và những giá trị đó cũng có thể gọi là những giá trị văn hóa anh hùng.

Vậy phẩm chất anh hùng của Harry có được từ đâu? Những điều kiện xã hội nào đã hình thành nên phẩm chất anh hùng của Harry? Điều đầu tiên có thể thấy đó là hoàn cảnh gia đình của Harry, xuất thân từ một gia đình có truyền thống trong quân đội, có bố là tướng và bản thân Harry cũng là một quân nhân, chịu sự chi phối của những quy định có tính nguyên tắc, lễ nghi, khuôn phép nên ít nhiều các giá trị truyền thống và những quân lệnh đó đã tác động đến cách suy nghĩ và hành động của Harry, mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán, linh hoạt... Ngoài ra, trong một hoàn cảnh xã hội mà lòng yêu nước, nghĩa vụ với đất nước, với chế độ được tôn thờ cũng là điều kiện hình thành nên những con người với những phẩm chất đáng quý nhất định, được xã hội đánh giá cao. Và phẩm chất đó càng lại có cơ hội được thể hiện hơn khi những giá trị tiền đề của nó tồn tại trong những người lính, những người được trang bị những kỹ năng nhất định như kỹ năng về cuộc sống, về xã hội, về khoa học kỹ thuật, hay kỹ năng chiến đấu, kỹ năng tồn tại .v.v. Chính hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội và kỹ năng của bản thân đã hình thành nên phẩm chất anh hùng của Harry.

Tuy nhiên, thật là thiếu sót nếu bỏ qua chi tiết lúc đầu của câu chuyện, bỏ qua chi tiết Harry từ chối quân lệnh lên đường ra trận. Trên thực tế, lý do từ chối nhiệm vụ đã không được giải thích rõ trong tác phẩm, ngay cả những tác phẩm điện ảnh (phần nhiều là của Anh sản xuất, có 03 lần do Mỹ sản xuất, nhưng Mỹ cũng là một nước có nhiều đặc điểm nguồn gốc văn hóa xuất phát từ Anh) phản ánh lại cũng không thể diễn tả đầy đủ được lý do Harry từ chối. Điều này đem lại cảm giác cho người viết bài này thấy rằng, phẩm chất anh hùng của Harry và cũng có thể nói của người Anh được phản ánh trong tính thực dụng của họ. Và cũng có thể nói thực dụng chính là văn hóa của người Anh, tức là văn hóa thực dụng. Kể cả tác giả cho đến nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện đầy đủ nét văn hóa này. Bởi tác giả đã không thể diễn tả đầy đủ được lý do hay cố tình không muốn diễn tả và có lẽ văn hóa thực dụng là nguyên nhân. Từ nét văn hóa này, có thể Manson nghĩ rằng hành động và không hành động là quyền của mỗi người, trên cơ sở tự ý thức của họ. Ngay từ lúc đầu, cảm giác sợ chiếm phần lớn trong suy nghĩ của Harry, sợ mất người yêu, sợ bị thương, chết… và lý do lên đường là để lấy lại danh dự của Harry, tất cả đều thể hiện tính thực dụng. Như vậy, văn hóa thực dụng chính là nét tiêu biểu nhất và phẩm chất anh hùng của Harry đã được biểu hiện trong cái không gian văn hóa thực dụng ấy, trong tính cách thực dụng ấy của người Anh.

Wednesday, January 4, 2012

book review

Viết bài điểm sách - phương pháp và thử nghiệm
Đinh Lê Na

TS Thomas Saylor (2001-05) từng hướng dẫn về cách viết bài điểm sách lịch sử [1], tạm lược dịch như sau:

Một trong những biểu hiện của việc đọc giao tiếp/phê bình là khả năng ghi chú/đánh giá những thông tin/nội dung quan trọng. Có rất nhiều các phương pháp điểm sách khác nhau. Bài viết này chủ yếu đề cập đến cách giúp bạn có thể nâng cao bài điểm sách của mình cũng như khả năng đọc có giao tiếp/phê bình [...].


Mỗi bài điểm sách thông thường có 3 phần chính: (1) Định nghĩa rõ ràng về ý tưởng/luận điểm chính của tác giả được đề cập đến trong tác phẩm, (2) Cách tác giả phát triển ý tưởng hay bút pháp được sử dụng, (3) Ý kiến phê bình của bạn.


Bắt đầu bài điểm sách của bạn bằng trích dẫn tổng quát (ví dụ: Đặng, Phong 2010, Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố. Tủ sách Đường mòn Lịch sử. Hà Nội: NXB Tri Thức. 192 trang)


Thường một bài điểm sách phải có đủ 3 phần chính:


(1) Luận điểm - Ý kiến tác giả liên quan đến chủ đề mà tác phẩm đang đề cập đến. Ý kiến đó có thể rõ ràng, dứt khoát hoặc bao gồm nhiều luận điểm khác nhau. Thậm chí, có thể là chẳng có luận điểm nào cả. Thông thường, luận điểm nên/phải thống nhất và rõ ràng.


(2) Phát triển - Bút pháp tác giả sử dụng để phát triển ý tưởng. Có thể trả lời các câu hỏi: Tác giả đang đề cập đến vấn đề gì? Cách họ bảo vệ/tranh luận? Nên cố gắng đi sâu phân tích hơn chỉ đơn giản là tổng hợp nội dung. Tránh quá dài dòng nhưng cũng không nên quá vắt tắt. Đó là một nghệ thuật. [...] Một vài câu hỏi ví dụ về các công cụ được sử dụng: Tác giả dựa vào nguồn dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? (Đây là cách khá hữu dụng để quan sát sâu vào tác phẩm). Kết cấu tổ chức nội dung? Tác phẩm đề cập về một giai đoạn lịch sử nhất định hay về một chủ đề riêng biệt? Tác phẩm đặc biệt nhấn mạnh vào điểm nào? Kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn giáo hay những yếu tố khác?


(3) Ý kiến phê bình - Đây là phần quan trọng nhất của bài điểm sách. Phần này thể hiện rõ khả năng đánh giá của người điểm sách. Sự phê bình này không phải lúc nào cũng mang dụng ý xấu. Một bài phê bình tốt nên làm rõ các yếu tố: 1) Khuynh hướng của tác giả: tác giả có khuynh hướng trung lập hay nghiêng về luồng tư tưởng nào? Xem xét đến hoàn cảnh xuất thân của tác giả? quan điểm chính trị? Khi điểm sách, bạn phải ý thức sâu sắc được điều này. Nên đọc kỹ phần giới thiệu để tìm kiếm những thông tin cần thiết. 2) Lắng nghe suy nghĩ tiềm ẩn của bản thân [2] Liệu quan điểm và cách tác giả chứng minh luận điểm có thực sự thuyết phục bạn ko? Hay còn bỏ ngỏ nhiều câu hỏi chưa được trả lời thỏa đáng? Lần nữa, hãy đọc kỹ phần giới thiệu trước khi bắt đầu đọc sách. 3) Chất lượng về mặt văn học. Ý kiến cá nhân bạn, liệu đây có phải là 1 quyển sách hay về mặt văn chương, câu chữ, diễn đạt ko? Hay là nó chỉ là một mớ hỗn độn từ ngữ?


TS Saylor cũng đưa ra một vài lời khuyên hữu ích. Trước hết, bạn sẽ cảm thấy không dễ dàng khi điểm sách về một chủ đề bạn không quen thuộc, vì vậy nên tìm kiếm một vài sự hỗ trợ bên ngoài như ý kiến/phê bình của những người khác về tác phẩm hoặc tìm đọc một vài sách nền về cùng chủ đề [...]. Tiếp nữa, cần sử dụng “ngôn ngữ” của chính bạn. Có thể đọc tham khảo 1 số bài điểm sách khác trước khi bạn bắt đầu. Trích nguồn và kiểm tra cẩn thẩn bất cứ những gì bạn viết ra. Sau rốt, nên dùng ngôn ngữ chuẩn về mặt ngữ pháp và chính tả.


--- chú thích

[1] – Lược dịch theo http://homepages.csp.edu/saylor/Documents/WRITING_AN_HISTORICA/4826_5328.htm

[2] – Theo ý người viết hiểu là nên lắng nghe bản năng của mình, liệu mình có thực sự thấy hài lòng về quyển sách này ko?

[3] – theo bản gốc, mục này lưu ý việc sử dụng tiếng anh chuẩn về ngữ pháp và đặc biệt không nên phạm các lỗi chính tả. Người viết chuyển thể sang sử dụng ngôn ngữ nói chung cho phù hợp[...]

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Dựa vào phương pháp vừa mô tả, tôi đã thử nghiệm viết bài điểm sách dưới đây:

Review - Đặng, Phong 2010, Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố. Tủ sách Đường mòn Lịch sử. Hà Nội: NXB Tri Thức, 192 trang.


Đó là cảm giác ngạc nhiên xen lẫn tò mò khi cầm trên này quyển sách nhỏ này của Đặng Phong [1]. Thứ nhất vì vẫn quen nếp nghĩ đến Đặng Phong là “lịch sử kinh tế”, thứ hai vì ông thông qua một con đường để kể về những thăng trầm Thăng Long – Hà Nội và thứ ba con đường đó là “Lê Duẩn”. Chuyện Đặng Phong là một nhà nghiên cứu lớn về lịch sử kinh tế (Việt Nam) thì không có gì để bàn cãi. Nhưng với nếp nghĩ đó, ta có chút hoài nghi khi ông dấn thân vào lĩnh vực “Hà Nội học” [2]. Tuy nhiên, hãy thử đọc và cảm nhận một tác phẩm “thử làm chơi” [3] bằng hứng khởi và miệt mài cá nhân [4].


“Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố” kể về Thăng Long từ những ngày được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô năm 1010, đến thời Pháp chiếm đóng vào cuối thế kỷ XIX, và những ngày sau Cách mạng Tháng tám 1945. Xuyên suốt ngàn năm lịch sử kinh kỳ, con đường Lê Duẩn đã trải qua bao lần thay tên đổi họ. Mỗi thay đổi đó lại phản ánh những ý chí khác nhau của những người cầm quyền. Do vậy, về vai trò lịch sử, đặc biệt là về mặt giao thông đi lại [5] có thể nói đường Lê Duẩn là con đường quan trọng nhất trong hai con đường giao thông huyết mạch [6] của đất nước vì đó làcổng mở của Hà Nội về phía Nam [7] tính từ vị trí Hoàng Thành. Đặng Phong đã dùng những dẫn chứng về sự ra đời những tên đường, tên phố, về những công trình, những con người hay sự kiện gắn bó xung quanh con đường này để khẳng định với người đọc ý nghĩ quan trọng của con đường mang tên Lê Duẩn. Mặc dù đi một sự hứng thú bất ngờ, tác phẩm không vì thế mà giảm đi giá trị.


Đầu tiên, bàn về phương pháp trình bày sự kiện, Đặng Phong không sử dụng cách trình bày theo trình tự thời gian cứng nhắc mà linh hoạt theo từng địa danh, sự kiện, con người.. Sách chia ra làm 3 phần: (1)Kể từ nhà Lý, (2)Sang thời Pháp, (3)Sau Cách Mạng với dụng ý đánh dấu những đặc điểm đặc trưng của mỗi thời kỳ. Thời Phong Kiến với những nhà cửa tre nứa lá, phố là nơi buôn bán, tập trung đông người nhưng nhỏ hẹp, con đường Lê Duẩn mới chỉ có được cơ sở ban đầu để hình thành. Sang thời Pháp chiếm đóng con đường bắt đầu mang dáng vẻ đường phố theo đúng nghĩa hiện đại (tr.72) với mốc son quan trọng là việc hình thành Ga Hàng Cỏ (tr.72). Sau Cách Mạng Tháng Tám, con đường lại phản ánh thời kỳ toàn quốc kháng chiến (tr.130); phản ảnh nền kinh tế quốc doanh mà Chiến dịch cải tạo tư thương 1958 (tr.141) là một điển hình.


Khi đi dọc theo con phố Lê Duẩn, ngược về quá khứ, từ điểm xuất phát khởi hành không gian, cũng là điểm khởi hành thời gian: Cửa Đại Hưng (Cửa Nam, 1010), đến Khâm Thiên Giám [8], Chùa Tiên Tích[9], Hàng Cỏ (Thời Lý), Quảng Văn Đình (Thời Lý), đến Đãi Lậu Viện (Đời Lê Thái Tổ, 1428-1433), Đình Ngang (Đời Lê Thánh Tông, 1497), Ga Hàng Cỏ (cuối thế kỷ XIX, đầu XX), Sở nhà Dầu (1911), nhà in Taupin (giữa những năm 1920), trường Mỹ thuật Đông Dương (1924),...Xen kẽ trong đó là những câu chuyện về những con người đã góp phần làm nên vẻ đẹp của bức tranh lịch sử như câu chuyện về Chàng cắt cỏ trở thành ông Tiến Sĩ (tr.40) hay Phố Sinh Từ (tr.87) kể về một Nguyễn Hữu Độ được lập đền thờ ngay khi còn sống.


Tiếp theo, hãy nói đến cách tác giả sử dụng hàng loạt những bằng chứng dữ kiện minh họa cho mỗi ý kiến được đề cập, đồng thời đi sâu đến ngọn ngành của những ý tưởng đó [10]. Tương ứng với mỗi địa danh/ nhân vật, ông điểm những câu chuyện kim cổ liên quan: trích lục bản đồ có niên đại muộn hơn (Hình 10 - bản đồ vị trí Trữ Vân Đình thời Lý – Trần, tr.44), giải thích các truyền thuyết xung quanh (sự tích chùa Tiên Tích, tr.30). Chẳng hạn, khi đề cập đến địa danh “Hàng Cỏ”, ông tìm về nguồn gốc cái tên là từ việc khu vực này cỏ mọc ngút ngàn (tr. 33), người dân cắt cỏ làm nghĩa vụ (tr.39), ngoài ra họ còn bán cho các nhà giàu nuôi ngựa và cho Nhà nước mua thêm để đủ thức ăn nuôi voi, nên có tên “Hàng Cỏ”. Không dừng lại đó, ông đi sâu giải thích về tầm quan trọng của voi đối với triều đình lúc bấy giờ, xác định số lượng, chỉ ra bản đồ vị trí tàu voi (hình số 6, tr.34). Thậm chí, ông còn tìm đến một cái ngõ nhỏ, ngõ Hàng Cỏ, minh họa nó bằng bản đồ Hà Nội (sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945), bằng hình chụp bảng tên chỉ đường (hình số 9, tr.40). Hay như khi đề cập đến Nữ thần tự do và máy chém (tr.76), ông kể lại “hành trình” của Bức tượng Nữ thần tự do (tỷ lệ thu nhỏ) và mối liên quan đến một hình ảnh nữ anh hùng, chị Nguyễn Thị Ba. Qua đó, khắc họa bức tranh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thời bấy giờ (tr.78).


Vậy là, bằng cách tìm hiểu tất cả những gì liên quan đến 1 cái tên, một sự kiện, Đặng Phong vẽ cho người đọc những mối liên kết xung quanh, từ đó giúp người đọc hình dung sự kiện trong một bối cảnh rộng lớn hơn. Cách minh họa này dễ làm ta có cảm giác lạc vào một mê cung những số liệu, dẫn chứng. Hãy khoan, hãy đặt dữ kiện sang một bên, hình thành trước cho mình một ý niệm tổng quát, rồi liên kết lại. Một bức tranh sống động tới từng chi tiết sẽ dần dần hiện ra.


“Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố” đem lại cho người đọc không chỉ là những dữ liệu lịch sử khô khan mà gắn với nó là những câu chuyện, những sự tích bất tận. Qua lời kể nhẹ nhàng của Đặng Phong, những câu chuyện ấy hiện lên đầy biểu cảm như vừa mới xảy ra.

--------

[1] – “nhỏ” là so với những tác phẩm khác của ông về độ dày lẫn nội dung như Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989. NXB Tri thức. 2008.

Tham khảo thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Phong

[2] – “Hà Nội học” – Lĩnh vực nghiên cứu Hà nội và tất cả các yếu tố liên quan như lịch sử, địa lý, văn hóa,...tham khảo http://hanoi.vietnamplus.vn/

[3] [4] – chữ của GSTS Đỗ Hoài Nam. Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Trích trong “Lời tựa” của “Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố”. Tr.5

[5] [6] [7] – chữ của Andrew Hardy. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Trích trong “Lời giới thiệu” của “Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố”. Tr.11. Nguyễn Hoàng Diệu Thủy dịch.

[8] – Theo tác giả, cơ quan dự đoán thời tiết đã được xây dựng những năm đầu xây dựng Hoàng Thành, với tên gọi Chính Dương. Các triều đại sau mới chuyển cơ quan này ra ngoại thành, vị trí có thể là ở phố Khâm Thiên hiện tại. Như vậy, về nguồn gốc, có thể nói đây là một trong những địa danh sớm gắn liền với thành Thăng Long. Tr.26

[9] – Tác giả không đưa ra niên đại chính xác có tên gọi của địa danh trên, nhưng dựa trên những sự tích và lưu truyền thì có thể đã xuất phát từ triều Lý nên người viết cho rằng đó là lý do ông đề cập đến địa danh này ở phần đầu sách. Tr.30

[10] – Quyển Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989. NXB Tri thức. 2008, cùng tác giả cũng sử dụng phương pháp này.