Saturday, January 7, 2012

The Four Feathers

Tính cách Anh qua tiểu thuyết The Four Feathers
Việt Thanh

Để hiểu văn hóa Anh mà cụ thể là chủ nghĩa anh hùng cá nhân, chúng ta có thể tìm đọc các tác phẩm văn học, bởi đó chính là những sản phẩm phản ánh đời sống văn hóa của con người. Nền văn học Anh có nhiều tác phẩm thể hiện đề tài này và một trong nhiều tác phẩm đó - phản ánh hiện thực anh hùng của người Anh - là tiểu thuyết The Four Feathers (Tạm dịch là Bốn cọng lông gà hay thoát nghĩa hơn là Kẻ hèn nhát) của nhà văn A.E.W Mason, được xuất bản năm 1902 và nhân vật Harry Feversham trong tác phẩm là hình tượng biểu trưng rõ nét khi xem xét phẩm chất anh hùng. Tác phẩm là nguồn cảm hứng lớn cho các đạo diễn điện ảnh trong nhiều năm qua; từ năm 1915 đến nay có bảy lần tác phẩm được dựng thành phim.

The Four Feathers là tiểu thuyết của A.E.W Mason (1865-1948) được xuất bản vào năm 1902. Nội dung kể về một người lính tên là Harry Feversham từ chối nhận nhiệm vụ lên đường đến Sudan, Ai Cập, trong bối cảnh xã hội nước Anh vào thời năm 1882. Harry không chịu nhập ngũ nên ba người bạn đã tặng cho anh ba chiếc hộp, mỗi hộp có chứa một chiếc lông gà màu trắng - biểu tượng cho sự hèn nhát. Đau đớn hơn cho Harry bởi chiếc lông màu trắng thứ tư lại đến từ Ethne, người yêu của Harry. Ngoài ra, cha của Harry cũng từ bỏ anh vì ông không chấp nhận một người con hèn nhát. Để lấy lại danh dự cho mình và tìm lại sự kính trọng từ mọi người, Harry đã bí mật sang Sudan, Ai Cập và tìm cách trà trộn vào bên quân địch để cứu những người bạn của mình và giúp quân đội Anh. Cuối cùng Harry trở về trong niềm vui chiến thắng, được mọi người ca ngợi và tìm lại được chính tình yêu của mình.

Xét đến phẩm chất anh hùng của Harry, đặt trong bối cảnh xã hội thời đó với những quan niệm, những tập quán, truyền thống và với vai trò vị trí của một người lính, việc Harry Feversham từ chối quân lệnh ra trận chiến trường là một hành động bị xem là hèn nhát, bị xã hội lên án, ruồng bỏ. Kế cả những người thân yêu nhất cũng không thể vượt qua được những định kiến xã hội đó. Tuy nhiên, có phải Harry Feversham từ chối không ra chiến trường là vì sợ, vì lợi ích riêng của mình hay Harry cho rằng điều đó không đáng để mình phải làm, phải quan tâm, phải hy sinh trong khi đó tài năng, tình yêu và tương lai tươi sáng của Harry trong quân đội đang ngày càng thăng tiến? Trong bối cảnh xã hội đó, việc dám từ chối một giá trị đã được khẳng định có phải là hành động hèn nhát?

Những người lính Anh thời đó gần như họ không đặt câu hỏi hành động chiến đấu của họ là vì cái gì. Vì đất nước, vì Nữ hoàng hay một giá trị nào đó? Họ không nghi ngờ về điều gì cả, chỉ biết khi có mệnh lệnh là họ sẵn sàng lên đường, và họ tự hào về điều đó. Ngược lại với Harry, anh đã không thể không nghĩ, anh đã nghi ngờ về một điều gì đó. Hẳn là sự mâu thuẫn trong nội tâm của Harry đã diễn ra sâu sắc và anh đã đưa ra quyết định. Thế một hành động dám vượt qua tất cả những định kiến của thời cuộc có phải là hành động hèn nhát? Có lẽ đây còn đang là đề tài tiếp tục được tranh cãi, bàn luận từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Thế nhưng xét trên bình diện chung, những đặc trưng của một anh hùng, của văn hóa anh hùng, phẩm chất anh hùng vẫn cho chúng ta khẳng định được đó là hành động anh hùng. Vì hành động đó, không phải xuất phát từ những gì mang tính ngẫu nhiên mà nó là quá trình đấu tranh tư tưởng, là sự nhận thức thời cuộc và năng lực bản thân của con người.

Điều này càng thể hiện rõ hơn trong những diễn biến của câu chuyện. Harry bị xã hội lên án, bị bạn bè dèm pha và người yêu, người thân từ bỏ. Không được ai chia s cùng mình những suy nghĩ nội tâm, cuối cùng Harry quyết định chứng minh rằng sự hèn nhát không có trong con người của anh, theo cách riêng của anh, đáp trả lại tất cả định kiến xã hội đối với anh. Và Harry đã làm được điều đó. Chiến thắng tất cả, quay về trong ánh hào quang chiến thắng của một người anh hùng. Những giá trị phẩm chất anh hùng đã thể hiện đan xen qua nhiều cung bậc tình cảm khác nhau của Harry. Từ tình yêu, tình bạn cho đến nghĩa vụ với đất nước, với quân đội và với con người. Rõ ràng giá trị văn hóa đó chỉ chứa đựng ở những con người có phẩm chất anh hùng và những giá trị đó cũng có thể gọi là những giá trị văn hóa anh hùng.

Vậy phẩm chất anh hùng của Harry có được từ đâu? Những điều kiện xã hội nào đã hình thành nên phẩm chất anh hùng của Harry? Điều đầu tiên có thể thấy đó là hoàn cảnh gia đình của Harry, xuất thân từ một gia đình có truyền thống trong quân đội, có bố là tướng và bản thân Harry cũng là một quân nhân, chịu sự chi phối của những quy định có tính nguyên tắc, lễ nghi, khuôn phép nên ít nhiều các giá trị truyền thống và những quân lệnh đó đã tác động đến cách suy nghĩ và hành động của Harry, mạnh mẽ, dứt khoát, quyết đoán, linh hoạt... Ngoài ra, trong một hoàn cảnh xã hội mà lòng yêu nước, nghĩa vụ với đất nước, với chế độ được tôn thờ cũng là điều kiện hình thành nên những con người với những phẩm chất đáng quý nhất định, được xã hội đánh giá cao. Và phẩm chất đó càng lại có cơ hội được thể hiện hơn khi những giá trị tiền đề của nó tồn tại trong những người lính, những người được trang bị những kỹ năng nhất định như kỹ năng về cuộc sống, về xã hội, về khoa học kỹ thuật, hay kỹ năng chiến đấu, kỹ năng tồn tại .v.v. Chính hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội và kỹ năng của bản thân đã hình thành nên phẩm chất anh hùng của Harry.

Tuy nhiên, thật là thiếu sót nếu bỏ qua chi tiết lúc đầu của câu chuyện, bỏ qua chi tiết Harry từ chối quân lệnh lên đường ra trận. Trên thực tế, lý do từ chối nhiệm vụ đã không được giải thích rõ trong tác phẩm, ngay cả những tác phẩm điện ảnh (phần nhiều là của Anh sản xuất, có 03 lần do Mỹ sản xuất, nhưng Mỹ cũng là một nước có nhiều đặc điểm nguồn gốc văn hóa xuất phát từ Anh) phản ánh lại cũng không thể diễn tả đầy đủ được lý do Harry từ chối. Điều này đem lại cảm giác cho người viết bài này thấy rằng, phẩm chất anh hùng của Harry và cũng có thể nói của người Anh được phản ánh trong tính thực dụng của họ. Và cũng có thể nói thực dụng chính là văn hóa của người Anh, tức là văn hóa thực dụng. Kể cả tác giả cho đến nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện đầy đủ nét văn hóa này. Bởi tác giả đã không thể diễn tả đầy đủ được lý do hay cố tình không muốn diễn tả và có lẽ văn hóa thực dụng là nguyên nhân. Từ nét văn hóa này, có thể Manson nghĩ rằng hành động và không hành động là quyền của mỗi người, trên cơ sở tự ý thức của họ. Ngay từ lúc đầu, cảm giác sợ chiếm phần lớn trong suy nghĩ của Harry, sợ mất người yêu, sợ bị thương, chết… và lý do lên đường là để lấy lại danh dự của Harry, tất cả đều thể hiện tính thực dụng. Như vậy, văn hóa thực dụng chính là nét tiêu biểu nhất và phẩm chất anh hùng của Harry đã được biểu hiện trong cái không gian văn hóa thực dụng ấy, trong tính cách thực dụng ấy của người Anh.

Wednesday, January 4, 2012

book review

Viết bài điểm sách - phương pháp và thử nghiệm
Đinh Lê Na

TS Thomas Saylor (2001-05) từng hướng dẫn về cách viết bài điểm sách lịch sử [1], tạm lược dịch như sau:

Một trong những biểu hiện của việc đọc giao tiếp/phê bình là khả năng ghi chú/đánh giá những thông tin/nội dung quan trọng. Có rất nhiều các phương pháp điểm sách khác nhau. Bài viết này chủ yếu đề cập đến cách giúp bạn có thể nâng cao bài điểm sách của mình cũng như khả năng đọc có giao tiếp/phê bình [...].


Mỗi bài điểm sách thông thường có 3 phần chính: (1) Định nghĩa rõ ràng về ý tưởng/luận điểm chính của tác giả được đề cập đến trong tác phẩm, (2) Cách tác giả phát triển ý tưởng hay bút pháp được sử dụng, (3) Ý kiến phê bình của bạn.


Bắt đầu bài điểm sách của bạn bằng trích dẫn tổng quát (ví dụ: Đặng, Phong 2010, Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố. Tủ sách Đường mòn Lịch sử. Hà Nội: NXB Tri Thức. 192 trang)


Thường một bài điểm sách phải có đủ 3 phần chính:


(1) Luận điểm - Ý kiến tác giả liên quan đến chủ đề mà tác phẩm đang đề cập đến. Ý kiến đó có thể rõ ràng, dứt khoát hoặc bao gồm nhiều luận điểm khác nhau. Thậm chí, có thể là chẳng có luận điểm nào cả. Thông thường, luận điểm nên/phải thống nhất và rõ ràng.


(2) Phát triển - Bút pháp tác giả sử dụng để phát triển ý tưởng. Có thể trả lời các câu hỏi: Tác giả đang đề cập đến vấn đề gì? Cách họ bảo vệ/tranh luận? Nên cố gắng đi sâu phân tích hơn chỉ đơn giản là tổng hợp nội dung. Tránh quá dài dòng nhưng cũng không nên quá vắt tắt. Đó là một nghệ thuật. [...] Một vài câu hỏi ví dụ về các công cụ được sử dụng: Tác giả dựa vào nguồn dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? (Đây là cách khá hữu dụng để quan sát sâu vào tác phẩm). Kết cấu tổ chức nội dung? Tác phẩm đề cập về một giai đoạn lịch sử nhất định hay về một chủ đề riêng biệt? Tác phẩm đặc biệt nhấn mạnh vào điểm nào? Kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn giáo hay những yếu tố khác?


(3) Ý kiến phê bình - Đây là phần quan trọng nhất của bài điểm sách. Phần này thể hiện rõ khả năng đánh giá của người điểm sách. Sự phê bình này không phải lúc nào cũng mang dụng ý xấu. Một bài phê bình tốt nên làm rõ các yếu tố: 1) Khuynh hướng của tác giả: tác giả có khuynh hướng trung lập hay nghiêng về luồng tư tưởng nào? Xem xét đến hoàn cảnh xuất thân của tác giả? quan điểm chính trị? Khi điểm sách, bạn phải ý thức sâu sắc được điều này. Nên đọc kỹ phần giới thiệu để tìm kiếm những thông tin cần thiết. 2) Lắng nghe suy nghĩ tiềm ẩn của bản thân [2] Liệu quan điểm và cách tác giả chứng minh luận điểm có thực sự thuyết phục bạn ko? Hay còn bỏ ngỏ nhiều câu hỏi chưa được trả lời thỏa đáng? Lần nữa, hãy đọc kỹ phần giới thiệu trước khi bắt đầu đọc sách. 3) Chất lượng về mặt văn học. Ý kiến cá nhân bạn, liệu đây có phải là 1 quyển sách hay về mặt văn chương, câu chữ, diễn đạt ko? Hay là nó chỉ là một mớ hỗn độn từ ngữ?


TS Saylor cũng đưa ra một vài lời khuyên hữu ích. Trước hết, bạn sẽ cảm thấy không dễ dàng khi điểm sách về một chủ đề bạn không quen thuộc, vì vậy nên tìm kiếm một vài sự hỗ trợ bên ngoài như ý kiến/phê bình của những người khác về tác phẩm hoặc tìm đọc một vài sách nền về cùng chủ đề [...]. Tiếp nữa, cần sử dụng “ngôn ngữ” của chính bạn. Có thể đọc tham khảo 1 số bài điểm sách khác trước khi bạn bắt đầu. Trích nguồn và kiểm tra cẩn thẩn bất cứ những gì bạn viết ra. Sau rốt, nên dùng ngôn ngữ chuẩn về mặt ngữ pháp và chính tả.


--- chú thích

[1] – Lược dịch theo http://homepages.csp.edu/saylor/Documents/WRITING_AN_HISTORICA/4826_5328.htm

[2] – Theo ý người viết hiểu là nên lắng nghe bản năng của mình, liệu mình có thực sự thấy hài lòng về quyển sách này ko?

[3] – theo bản gốc, mục này lưu ý việc sử dụng tiếng anh chuẩn về ngữ pháp và đặc biệt không nên phạm các lỗi chính tả. Người viết chuyển thể sang sử dụng ngôn ngữ nói chung cho phù hợp[...]

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Dựa vào phương pháp vừa mô tả, tôi đã thử nghiệm viết bài điểm sách dưới đây:

Review - Đặng, Phong 2010, Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố. Tủ sách Đường mòn Lịch sử. Hà Nội: NXB Tri Thức, 192 trang.


Đó là cảm giác ngạc nhiên xen lẫn tò mò khi cầm trên này quyển sách nhỏ này của Đặng Phong [1]. Thứ nhất vì vẫn quen nếp nghĩ đến Đặng Phong là “lịch sử kinh tế”, thứ hai vì ông thông qua một con đường để kể về những thăng trầm Thăng Long – Hà Nội và thứ ba con đường đó là “Lê Duẩn”. Chuyện Đặng Phong là một nhà nghiên cứu lớn về lịch sử kinh tế (Việt Nam) thì không có gì để bàn cãi. Nhưng với nếp nghĩ đó, ta có chút hoài nghi khi ông dấn thân vào lĩnh vực “Hà Nội học” [2]. Tuy nhiên, hãy thử đọc và cảm nhận một tác phẩm “thử làm chơi” [3] bằng hứng khởi và miệt mài cá nhân [4].


“Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố” kể về Thăng Long từ những ngày được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô năm 1010, đến thời Pháp chiếm đóng vào cuối thế kỷ XIX, và những ngày sau Cách mạng Tháng tám 1945. Xuyên suốt ngàn năm lịch sử kinh kỳ, con đường Lê Duẩn đã trải qua bao lần thay tên đổi họ. Mỗi thay đổi đó lại phản ánh những ý chí khác nhau của những người cầm quyền. Do vậy, về vai trò lịch sử, đặc biệt là về mặt giao thông đi lại [5] có thể nói đường Lê Duẩn là con đường quan trọng nhất trong hai con đường giao thông huyết mạch [6] của đất nước vì đó làcổng mở của Hà Nội về phía Nam [7] tính từ vị trí Hoàng Thành. Đặng Phong đã dùng những dẫn chứng về sự ra đời những tên đường, tên phố, về những công trình, những con người hay sự kiện gắn bó xung quanh con đường này để khẳng định với người đọc ý nghĩ quan trọng của con đường mang tên Lê Duẩn. Mặc dù đi một sự hứng thú bất ngờ, tác phẩm không vì thế mà giảm đi giá trị.


Đầu tiên, bàn về phương pháp trình bày sự kiện, Đặng Phong không sử dụng cách trình bày theo trình tự thời gian cứng nhắc mà linh hoạt theo từng địa danh, sự kiện, con người.. Sách chia ra làm 3 phần: (1)Kể từ nhà Lý, (2)Sang thời Pháp, (3)Sau Cách Mạng với dụng ý đánh dấu những đặc điểm đặc trưng của mỗi thời kỳ. Thời Phong Kiến với những nhà cửa tre nứa lá, phố là nơi buôn bán, tập trung đông người nhưng nhỏ hẹp, con đường Lê Duẩn mới chỉ có được cơ sở ban đầu để hình thành. Sang thời Pháp chiếm đóng con đường bắt đầu mang dáng vẻ đường phố theo đúng nghĩa hiện đại (tr.72) với mốc son quan trọng là việc hình thành Ga Hàng Cỏ (tr.72). Sau Cách Mạng Tháng Tám, con đường lại phản ánh thời kỳ toàn quốc kháng chiến (tr.130); phản ảnh nền kinh tế quốc doanh mà Chiến dịch cải tạo tư thương 1958 (tr.141) là một điển hình.


Khi đi dọc theo con phố Lê Duẩn, ngược về quá khứ, từ điểm xuất phát khởi hành không gian, cũng là điểm khởi hành thời gian: Cửa Đại Hưng (Cửa Nam, 1010), đến Khâm Thiên Giám [8], Chùa Tiên Tích[9], Hàng Cỏ (Thời Lý), Quảng Văn Đình (Thời Lý), đến Đãi Lậu Viện (Đời Lê Thái Tổ, 1428-1433), Đình Ngang (Đời Lê Thánh Tông, 1497), Ga Hàng Cỏ (cuối thế kỷ XIX, đầu XX), Sở nhà Dầu (1911), nhà in Taupin (giữa những năm 1920), trường Mỹ thuật Đông Dương (1924),...Xen kẽ trong đó là những câu chuyện về những con người đã góp phần làm nên vẻ đẹp của bức tranh lịch sử như câu chuyện về Chàng cắt cỏ trở thành ông Tiến Sĩ (tr.40) hay Phố Sinh Từ (tr.87) kể về một Nguyễn Hữu Độ được lập đền thờ ngay khi còn sống.


Tiếp theo, hãy nói đến cách tác giả sử dụng hàng loạt những bằng chứng dữ kiện minh họa cho mỗi ý kiến được đề cập, đồng thời đi sâu đến ngọn ngành của những ý tưởng đó [10]. Tương ứng với mỗi địa danh/ nhân vật, ông điểm những câu chuyện kim cổ liên quan: trích lục bản đồ có niên đại muộn hơn (Hình 10 - bản đồ vị trí Trữ Vân Đình thời Lý – Trần, tr.44), giải thích các truyền thuyết xung quanh (sự tích chùa Tiên Tích, tr.30). Chẳng hạn, khi đề cập đến địa danh “Hàng Cỏ”, ông tìm về nguồn gốc cái tên là từ việc khu vực này cỏ mọc ngút ngàn (tr. 33), người dân cắt cỏ làm nghĩa vụ (tr.39), ngoài ra họ còn bán cho các nhà giàu nuôi ngựa và cho Nhà nước mua thêm để đủ thức ăn nuôi voi, nên có tên “Hàng Cỏ”. Không dừng lại đó, ông đi sâu giải thích về tầm quan trọng của voi đối với triều đình lúc bấy giờ, xác định số lượng, chỉ ra bản đồ vị trí tàu voi (hình số 6, tr.34). Thậm chí, ông còn tìm đến một cái ngõ nhỏ, ngõ Hàng Cỏ, minh họa nó bằng bản đồ Hà Nội (sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945), bằng hình chụp bảng tên chỉ đường (hình số 9, tr.40). Hay như khi đề cập đến Nữ thần tự do và máy chém (tr.76), ông kể lại “hành trình” của Bức tượng Nữ thần tự do (tỷ lệ thu nhỏ) và mối liên quan đến một hình ảnh nữ anh hùng, chị Nguyễn Thị Ba. Qua đó, khắc họa bức tranh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc thời bấy giờ (tr.78).


Vậy là, bằng cách tìm hiểu tất cả những gì liên quan đến 1 cái tên, một sự kiện, Đặng Phong vẽ cho người đọc những mối liên kết xung quanh, từ đó giúp người đọc hình dung sự kiện trong một bối cảnh rộng lớn hơn. Cách minh họa này dễ làm ta có cảm giác lạc vào một mê cung những số liệu, dẫn chứng. Hãy khoan, hãy đặt dữ kiện sang một bên, hình thành trước cho mình một ý niệm tổng quát, rồi liên kết lại. Một bức tranh sống động tới từng chi tiết sẽ dần dần hiện ra.


“Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố” đem lại cho người đọc không chỉ là những dữ liệu lịch sử khô khan mà gắn với nó là những câu chuyện, những sự tích bất tận. Qua lời kể nhẹ nhàng của Đặng Phong, những câu chuyện ấy hiện lên đầy biểu cảm như vừa mới xảy ra.

--------

[1] – “nhỏ” là so với những tác phẩm khác của ông về độ dày lẫn nội dung như Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989. NXB Tri thức. 2008.

Tham khảo thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng_Phong

[2] – “Hà Nội học” – Lĩnh vực nghiên cứu Hà nội và tất cả các yếu tố liên quan như lịch sử, địa lý, văn hóa,...tham khảo http://hanoi.vietnamplus.vn/

[3] [4] – chữ của GSTS Đỗ Hoài Nam. Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Trích trong “Lời tựa” của “Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố”. Tr.5

[5] [6] [7] – chữ của Andrew Hardy. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Trích trong “Lời giới thiệu” của “Chuyện Thăng Long – Hà Nội qua một đường phố”. Tr.11. Nguyễn Hoàng Diệu Thủy dịch.

[8] – Theo tác giả, cơ quan dự đoán thời tiết đã được xây dựng những năm đầu xây dựng Hoàng Thành, với tên gọi Chính Dương. Các triều đại sau mới chuyển cơ quan này ra ngoại thành, vị trí có thể là ở phố Khâm Thiên hiện tại. Như vậy, về nguồn gốc, có thể nói đây là một trong những địa danh sớm gắn liền với thành Thăng Long. Tr.26

[9] – Tác giả không đưa ra niên đại chính xác có tên gọi của địa danh trên, nhưng dựa trên những sự tích và lưu truyền thì có thể đã xuất phát từ triều Lý nên người viết cho rằng đó là lý do ông đề cập đến địa danh này ở phần đầu sách. Tr.30

[10] – Quyển Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989. NXB Tri thức. 2008, cùng tác giả cũng sử dụng phương pháp này.

Tuesday, November 15, 2011

Thick Description

Phương pháp miêu tả đậm

Lê Hải*

Mặc dù là thuật ngữ thick description (tạm dịch là miêu/mô tả đậm) thường gắn liền với tên tuổi của nhà nhân học người Mỹ Clifford Geertz, thực ra ông chỉ dùng lại khái niệm đã được triết gia người Anh Gilbert Ryle (1900-1976) đưa ra từ trước, nhưng lại vận dụng thành công để nâng ngành nhân chủng học (ethnology) đã phá sản lên thành nhân học xã hội (social anthropology).

Một ví dụ dễ hiểu được đưa ra là khi nét mặt của một người khác thì sẽ dễ dàng phân biệt được hành động chớp mắt (twitch) của người thứ nhất với động tác nháy mắt (wink) của người thứ hai, trong khi một chiếc máy chụp ảnh thì không có khả năng như vậy. Nháy mắt là một động tác thông tin (communication): cố tình, truyền đến một người nhất định, chuyển tải một thông tin nhất định, theo một qui tắc xã hội nhất định. Nhưng trường hợp động tác nhại lại của người thứ ba, giả như nháy mắt nhưng không phải nháy mắt và cũng chẳng phải chớp mắt thì sao? Ryle giải thích là miêu tả mỏng (thin description) đều giống nhau cho cả ba trường hợp, đều là hai mí mắt chuyển động chập vào nhau, trong khi miêu tả đậm (thick description) thì phải nêu ra toàn bộ mối quan hệ giữa ba người này trong bối cảnh một câu chuyện đang diễn ra tại thời điểm này trong không gian này.

Tiếp tục với ví dụ về câu chuyện một người Do Thái đòi lại bầy cừu bị mất ở xứ Ma-rốc thuộc Pháp mà muốn trình bày ra ở đây sẽ phải kể loại toàn bộ những mối quan hệ rắc rối giữa những nhân vật trong một câu chuyện đơn giản là đi đòi lại bầy cừu bị mất, Clifford Geertz diễn giải rằng nhiều khi một dữ liệu thật đơn giản như lá thư ngắn trong cái chai trôi trên biển dạt vào bờ cũng đủ để nhà nhân học tạo ra một mô tả đậm đến bất ngờ. "Cái mà ta gọi là dữ kiện thực sự chính là cấu trúc tư duy của chúng ta về cấu trúc tư duy của người khác trong khung cảnh của họ và những người cùng nhóm." Để hiểu được nhiều khi chỉ đơn giản là một động tác phải làm trong lễ nghi truyền thống chẳng hạn như đám cưới thì người mô tả phải cung cấp vô số thông tin nền trước khi trực tiếp khảo sát hành động đó. Văn hóa và các mối quan hệ xã hội (chính trị, kinh tế, cộng đồng) càng tích tụ bao nhiêu thì mô tả càng đậm đặc bấy nhiêu. Sự khác biệt về số lượng giữa mô tả mỏng rằng chú rể chỉ tay vào cô dâu trong đám cưới Hồi giáo và mô tả đậm phải chuẩn bị thông tin nền về Hồi giáo, về thủ tục hôn lễ, về quan điểm giới trong xã hội v.v. có thể lên đến vài chục trang giấy. Tương tự vậy với mô tả mỏng và đậm về một chiếc áo Veston mà chú rể mặc trong một đám cưới ở một xã biên giới miệt An Giang, khi được làm đậm thêm bằng lịch sử du nhập văn hóa hay kinh tế toàn cầu, lẫn biểu tượng quyền lực chính trị và vai trò cá nhân trong mối quan hệ cộng đồng làng xã. "Các dữ kiện nhỏ nói lên vấn đề lớn, nháy mắy là câu chuyện của ý thức (epistemology), cướp bầy cừu là chuyện cách mạng, vì được làm ra như vậy".

Clifford Geertz nhìn văn hóa theo kiểu của Max Weber. Với Weber thì con người là loài thú mắc trong cái lưới của ngữ nghĩa (significance) mà ông đã đặt. Và Clifford coi văn hóa chính là cái lưới đó, mà các phân tích về văn hóa không phải là thí nghiệm như trong ngành khoa học tự nhiên để phát hiện qui luật tự nhiên, mà là một quá trình diễn giải để tìm hiểu ý nghĩa (meaning). Khi đó thì miêu tả sẽ còn đậm thêm, vì ý nghĩa luôn thay đổi theo thời gian và không gian, cũng như bối cảnh xã hội, được người ta thiết lập hay tái lập, mở rộng hay thu hẹp, chưa kể cách nhìn ý nghĩa còn thay đổi nhiều từ sau Husserl và Wittgenstein. Và quan trọng hơn nữa, là người mô tả đứng giữa hai hệ thống văn hóa khác nhau, của nhóm người được mô tả và nhóm người đọc mô tả đó, mà nhiều khi còn thêm hệ thống văn hóa thứ ba, tức là bề dày lịch sử và bản sắc của chính bản thân mình.

"Nói tóm lại - Clifford Geertz giải thích - viết luận văn nhân học bản thân là diễn giải," tức là cũng giống như một bài bình giảng văn học, hay bất kỳ một bài văn mô tả nào thành công [1]là đưa độc giả vào tâm của vấn đề đang được diễn giải (interpretation). Nhân học không chỉ là ở hiện trường ta điền dã, mà còn nằm sẵn hay được thể hiện trên trang sách, trong bài báo, qua giờ giảng, qua trình bày của bảo tàng và nay là cả qua phim ảnh nữa. Trong thời đại mạng toàn cầu thì mô tả còn đậm đặc thêm qua các liên kết hypertext.

[*] Tóm lược từ Clifford Geertz 1973, Thick Description: Toward an Interpretive Theory of Culture, in The Interpretation of Culture, Basic Books, các đoạn đặt trong ngoặc kép là trích dịch từ tác phẩm này. Độc giả quan tâm có thể tìm đọc nguyên văn tiếng Anh chương về khái niệm Thick Description của Clifford Geertz trong quyển sách này ở trang mạng http://hypergeertz.jku.at/GeertzTexts/Thick_Description.htm

[1] như bài tập làm văn của cậu bé trường Am mô tả giá trị đồng tiền gây xôn xao dư luận gần đây, hay những truyện ngắn thường gặp trên Văn Chương Việt, chẳng hạn như câu chuyện (hư cấu?) về một cô gái đi bán trứng của Lưu Thủy Hương http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=17256

Sunday, November 6, 2011

hoi thoai

Hội thoại nhìn từ Tâm lý học xã hội đời thường

Michael Argyle, Lê Hải lược dịch


LND: Sau một thời gian gây ảnh hưởng mạnh trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, ngành tâm lý học xã hội bắt đầu bị chỉ trích vì chỉ chăm lo đến các mô hình, khái niệm tổng quát và xa rời các vấn đề trong cuộc sống xã hội đời thường mà mỗi cá nhân vẫn gặp mỗi ngày. Đó là xuất phát điểm cho các tác giả như Michael Argyle soạn giáo trình Tâm lý học xã hội đời thường (The Social Psychology of Everyday Life), Routledge xuất bản năm 1992. Phương pháp thường gặp trong nghiên cứu tâm lý học xã hội là tập trung một nhóm nhỏ 2-4 sinh viên, rồi yêu cầu giải quyết một vấn đề, để sau đó phát hiện các mối quan hệ và qui luật đã được kiểm chứng rất nhiều lần và đưa vào sách giáo khoa, nhưng thực sự ra lối "nghiên cứu" đó không sát với thực tế đời thường, và cũng không đề cập gì đến những bối cảnh xã hộ như trong gia đình, xóm đạo, hiệp hội hay nhóm bạn bè. Một trong số những lĩnh vực thuộc loại quan trọng nhất trong mối quan tâm của ngành tâm lý xã hội nhưng lại ít được chú ý là đối thoại, được Michael Argyle dành riêng một chương trong sách.


Đa số các sách giáo khoa ngàh tâm lý xã hội hiện nay không có chương riêng về hành động trao đổi trò chuyện, nhưng đây mới là trung tâm của hầu hết tất cả mọi hành vi xã hội. Và cũng không hay nếu để cho các nhà ngôn ngữ toàn quyền xử lý, bởi vì mối quan tâm của họ có khác - chủ yếu là đi tìm các qui luật chi phối việc sắp đặt câu. Lời nói thì lại tạo khả năng cho công việc và giả trí, thiết lập quan hệ; công việc, giải trí và quan hệ bao gồm nhiều hay ít câu chuyện trao đổi. Hội thoại là môi trường của các tư tưởng và từ vựng chung, cũng như các qui tắc và thông hiểu chung.


Thường nhà ngôn ngữ học diễn tả ngôn ngữ bằng các chữ in trên giấy. Đây là sai lầm, vì đơn vị thực sự là lời trình bày của một cá nhân tới một cá nhân hay nhiều người khác, trong một hoàn cảnh, trong một mạch câu chuyện, nơi anh hay chị ta tìm cách ảnh hưởng lên người khác. Lời trình bày là đơn vị của một hành vi xã hội, nhưng là đơn vị rất đặc biệt, vì dùng từ và ngữ pháp, và truyền đạt ý nghĩa. Các cuộc hội thoại tương tự nhau cùng là các chuỗi hành vi đặc biệt với cấu trúc phức tạo, và đòi hỏi phải sở hữu những kỹ năng đặc biệt để thực hiện đúng cách.


Nhà tâm lý học xã hội nghiên cứu hội thoại qua thí nghiệm và các phương pháp giúp định lượng. Kết quả sẽ được đăng tải trong các tạp chí tâm lý như là Journal of Language and Social Psychology. Trong khi đó nhà ngôn ngữ học lại nghiên cứu hội thoạ, ví dụ như là phương pháp "phân tích hội thoại", qua một vài ví dụ và suy diễn ra sự tồn tại của các qui luật như là luật ngữ pháp.


[... Như vậy,] đơn vị cơ bản của ngôn ngữ hiện được người ta tin không phải là chữ in mà là những truyền đạt bằng lời nói (utterance). Một lời truyền đoạt là một thành phần của hành vi.


[...] Truyền đạt không lời (non-verbal communication) giữ một số vai trò quan trọng trong hội thoại: thêm vào và làm đầy đủ ý nghĩa của lời truyền đạt, đưa tín hiệu phản hồi từ người nghe, đồi thời giúp phối hợp và bảo đảm đồng bộ.


[...] Một chuỗi hội thoại có thể có dạng phổ biến nhất là hỏi-trả lời, hay yêu cầu-thực hiện (hay từ chối), triệu tập-đáp lễ, đề nghị-chấp thuận (hay từ chối), cám ơn-ghi nhận, chúc mừng, hội hè.


[...] Hai người đang đối thoại cũng "đối đãi" lẫn nhau, ví dụ như họ thay đổi kiểu nói chuyện để giống nhau hơn. Có thể thấy qua việc sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, hay độ to nhỏ và dài ngắn của lời truyền đạt. Họ làm như vậy một phần để người kia tiếp nhận, hay hòa nhập, và một phần là để hiểu nhau hơn. [...]


Hội thoại là kỹ năng phối hợp khó khăn giữ hai hay nhiều người, và cần thiết cho tất cả mọi hành vi xã hội. Người ta đã phát hiện nhiều hiện tượng đặc trưng cho hành vi này, ví dụ như liên chủ quan, đối đãi và lễ giáo. Chuỗi hội thoại phức tạp, chỉ có thể hiểu một phần. Các tín hiệu không lời giữ vai trò mật thiết để phối hợp đồng bộ và tạo kênh phản hồi. Các kỹ năng nói chuyện đặc biệt được cần đến khi kết bạn, trao đổi qua điện thoại và trong các tình huống khác, và có khác biệt lớn trong kiểu nói chuyện giữa các giới tính và tầng lớp xã hội khác nhau. Nếu không nắm được các kỹ năng hội thoại tổng quát hay trong trường hợp đặc biệt thì sẽ tạo ra khó khăn, nhưng người ta có thể được huấn luyện để sử dụng các kiến thức hiện có.

Saturday, November 5, 2011

ky nang doc

Kỹ năng đọc cho sinh viên

Lê Hải lược dịch [*]


Bên cạnh kỹ năng viết và lập luận, kỹ năng đọc là một trong số những hoạt động quan trọng nhất mà sinh viên cần làm quen. Đó là thực tế, và thực tế thật đáng tiếc là đa số sinh viên [1] đều gặp vấn đề trong việc đọc. Có vẻ như sinh viên phải đọc quá nhiều và không bao giờ đủ thời gian để đọc. Danh sách những gì cần đọc thường rất dài, và giảng viên đưa ra nhiều hướng dẫn khác và ngay cả khi bạn chỉ đơn giản là tìm đọc những gì mình quan tâm thì sẽ sớm nhận thấy (nếu vẫn chưa làm như vậy) rằng có quá nhiều thông tin cần tiếp nhận và có quá ít thời gian để tiếp nhận chúng. [...]


Chúng tôi không nghĩ rằng người đọc giỏi đơn giản chỉ là vấn đề phát triển kỹ năng và phương pháp đọc sách. Sinh viên muốn trở thành người đọc giỏi cần học cách chắt lọc thông tin hiệu quả từ những gì đã đọc, đồng thời học cách giao tiếp một cách sáng tạo và phê bình với quyển sách. Họ cũng sẽ thành người đọc có kỷ luật, hình thành và duy trì thói quen tốt, và sử dụng tốt thời gian nhờ vận dụng các kỹ năng và phương pháp đã tiếp thu. [...]


Cùng với lắng nghe và quan sát, đọc sách là phương tiện quan trọng để chúng ta tiếp nhận thông tin về thế giới. Đọc sách củng cố hầu hết công việc đại học của sinh viên, cũng như đang là nền móng của cuộc sống đại học của giảng viên của bạn. Người làm công tác khoa học phải đọc, để mà đạt được và duy trì sự hiểu biết chuyên ngành, liên tục cập nhật, và đối chiếu công việc của mình với các đồng nghiệp khác. Bạn phải đọc để biết về chuyên ngành mình đang học và giúp mình tiếp nhận phong cách khoa học vào bài viết. "Phong cách khoa học" ở đây là cách bạn liên kết những gì mình viết với những gì người khác đã viết về cùng một đề tài hay các đề tài có liên quan. [...]


Bạn có thể thấy ích lợi từ việc lưu lại các bài viết khoa học mẫu mực mà bạn từng đọc qua. Bạn có khả năng phát hiện một bài viết tốt, vì bài đó sẽ truyền đạt ý tưởng và lập luận dù rất phức tạp nhưng dễ hiểu. Bạn có thể làm một cặp hồ sơ lưu các bản sao những đoạn văn đó, vài trang hay cả chương hoặc bài viết trên tạp chí. Cùng đó là một vài ghi chú riêng giải thích tại sao bạn lại nghĩ đó là bài viết thành công, ví dụ như là do dùng câu ngắn, từ ngữ đơn giản, hay dùng ngôi thứ nhất để truyền đạt, hay đơn giản là tránh dùng từ chuyên môn? Và cũng ích lợi nếu sưu tập các bài viết kém, đặc biệt là các bài viết không thể đọc nổi và chẳng truyền đạt được gì, ngoài cảm giác là tác giả có lẽ vô cùng thông thái nếu biết rõ mình đang viết gì. Bạn cũng có thể lưu trữ những bài viết thất bại mình từng gặp thành cặp hồ sơ, với ghi chú bên cạnh giải thích lý do làm bài viết kém. [...]


Chưa bao giờ xu hướng các trường đại học và cao đẳng muốn sinh viên không chỉ tiếp thu kỹ năng đọc mà còn cả phương pháp đọc chuyên môn lại mạnh như hiện nay, gọi là học từ nguồn sách: resource-based learning. Trong một quyển sách trước, chúng tôi từng nhắc đến khái niệm FOFO (First Organise and Find Out) do một trường đại học đặt ra nhằm muốn sinh viên trở thành những người có khả năng tự học bằng cách trao cho họ trách nhiệm về việc học của mình. [...]


Bất kể bạn đã đọc gì, và tiếp xúc với loại sách khoa học nào, những gì bạn sẽ đọc ở trường đại học khác với những gì trước đây, đặc biệt là khác với sách giáo khoa thời trung học. Trong vai trò sinh viên bạn sẽ được giảng viên hướng dẫn đọc một số sách, qua danh sách bắt buộc cho toàn môn, và các đề mục được giới thiệu thêm. Tuy nhiên, thường thì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm tìm kiếm và quyết định sẽ đọc gì, hơn là thụ động như ở cấp phổ thông. [...]


Bạn cũng cần phải tìm xem mình là người đọc thuộc loại nào. Người khéo léo có thể cùng lúc nắm giữ và luân chuyển nhiều ý tưởng khác nhau. Người nấu bếp từ từ lên men tư tưởng riêng với một ít từ chỗ này, một phần từ chỗ kia từ những gì đã đọc. Người thám hiểm đi vào nơi chưa biết và có lúc vào khu vực tri thức nguy hiểm. Người làm vườn, cẩn thận lên kế hoạch, chuẩn bị nền rất kỹ bằng cách đặt trước câu hỏi muốn tìm gì trong lúc đọc, nuôi dưỡng cẩn thận ý tưởng của mình khi gặp môi trường và loại bỏ các nhánh yếu. Thám tử theo dấu các lập luận và dòng suy nghĩ, cả trong và giữa các văn bản. Người đọc tình cảm sẽ đem những thông điệp đáng yêu đã gặp vào bài khóa luận. Người làm bản đồ sẽ phác thảo sơ đồ của quyển sách, xác định cao điểm và thung lũng, các đặc tính địa hình để anh ta dễ dàng tìm đường đi khi quay lại sau này. [...]


Trong vai trò sinh viên, nhiệm vụ của bạn là phải nhớ, sắp xếp và vận dụng một khối lượng lớn thông tin đa phần là đến từ quá trình đọc của bạn. Một số thông tin sẽ là dạng mà chúng ta thường gọi là "kiến thức", ý nói có một mức độ định nghĩa trong đó, hoặc quá ý nghĩa mà người ta coi là sự thật. Các thông tin khác cũng cần phải tiếp thu và sử dụng nhưng không phải là kiến thức, mà là quan điểm hay ý kiến. Khi ghi chú bạn sẽ phải tự tìm ra cách đê phân loại các thông tin khác nhau đó. [...]


Phương pháp ghi chú tùy thuộc vào cách học của bạn và con đường tư duy riêng của bạn. Có người luôn giữ một cách ghi chép nhất quán trong lúc đọc sách, có người lại thích phối hợp các kiểu tiện lợi, như là dùng sơ đồ nếu ý tưởng cần trình bày theo kiểu như vậy, hoặc liệt kê theo danh sách chẳng hạn như là các từ khóa, các cụm từ hay câu ngắn, và cũng có người ghi chép rất nhiều. Quan trọng là bạn chọn phương pháp ghi chú phù hợp với tài liệu đang đọc và mục tiêu trong việc đọc và viêt ghi chú. Ví dụ khi gặp các lập luận phức tạp thì ghi thành từng hàng sẽ thuận lợi hơn, mỗi lập luận mới sẽ là một hàng mới trong sổ ghi chép. Hay là khi ghi chép về một quá trình khoa học, hay quan hệ giữa các cá nhân trong một tổ chức, hay nguyên nhân tạo ra một sự kiện lịch sử, thì có thể đánh điểm hoặc vẽ sơ đồ. [...]


Thay vì viết ghi chú vào tờ giấy khác, một số người chọn sử dụng luôn tài liệu mà họ đang đọc - tô màu các chữ và viết bình luận vào bên cạnh. Một số giảng viên đại học không chấp nhận hành vi này, nhưng chúng tôi hoàn toàn ủng hộ việc viết vào sách và tài liệu, vì làm như vậy giúp bạn sử dụng chúng hiệu quả hơn, với điều kiện là bạn chỉ viết vào sách và tài liệu của mình, không bao giờ viết vào sách hay tài liệu của người khác. [...]


Học cách đọc bài viết của chính mình có lẽ là điều quan trọng nhất bạn có thể làm nếu muốn viết tốt hơn, vì bài khóa luận mà bạn sẽ phải viết nháp và sửa chửa lại cùng luận văn sẽ là công việc viết quan trọng nhất. Ai cũng có thể viết một chuỗi các từ và may mắn thì họ sẽ nối lại thành câu và khổ tạo ra một nội dung nào đó. Tuy nhiên, kỹ năng thực sự nằm ở chỗ làm các dòng chữ đó chuyển tải được thông điệp một cách đơn giản, rõ ràng và lịch thiệp nhất. [...]


[*] Từ giáo trình của Gavin J. Fairbairn & Susan A. Fairbairn 2001, Reading at University - A guide for Students, Open University Press, chú thích của người dịch.

[1] Tác giả là giảng viên tại đại học Mở, trường có nhiều sinh viên (đào tạo từ xa) nhất nước Anh, đồng thời cũng nghiên cứu về vấn đề đọc sách của sinh viên ở Mỹ.

Saturday, October 29, 2011

phim

Làm phim nghiên cứu và Nghiên cứu làm phim


Social Psychology

Tâm lý học xã hội

Lê Hải, theo giáo trình của Smith&Mackie

Social psychology là ngành học chính thức được xuất hiện vào năm 1908 với hai quyển sách giáo khoa cùng tên. Một quyển là của nhà tâm lý học William McDougall, cho rằng mọi hành vi xã hội là vốn có hoặc bản năng, là tư duy phổ biến trong ngành tâm lý học thời bấy giờ. Quyển kia là của nhà xã hội học E.A. Ross, lập luận rằng con người chịu ảnh hưởng nhiều của người khác, bất kể là người kia có hiện diện ngay bên cạnh hay không. Tư tưởng này sau trở thành chủ đạo trong ngành tâm lý học xã hội. Các thay đổi của con người trong môi trường xã hội được quan tâm đặc biệt sau hai thí nghiệm nổi tiếng. Trước hết là nhà nghiên cứu người Mỹ Norman Triplett vào năm 1898 nhận thấy người bơi thi có thành tích cao hơn tự bơi một mình, tức là sự có mặt của những người khác ảnh hưởng tích cực đến hành động của người đó. Thế nhưng một ghi nhận khác trong thập niên 1880s của kỹ sư nông học người Pháp Max Ringelmann thì lại thấy ảnh hưởng tiêu cực, người ta ít bỏ sức hơn khi cùng kéo dây hay đẩy xe. Trước đó nữa, vào thời văn minh Hi Lạp, các triết gia cũng đã quan tâm đến đìều kiện sống của con người, như Plato với khái niệm não trạng của đám đông, rằng ngay cả người thông thái nhất khi lạc vào đám đông cũng có thể bị biến thành một người hành động mù quáng vô suy nghĩ.

Hiện tại, tâm lý học xã hội (social psychology) được định nghĩa là một môn khoa học nghiên cứu các ảnh hưởng của các quá trình xã hội và nhận thức lên cách mà các cá nhân nhận biết, ảnh hưởng, và quan hệ với những người khác. Theo đó, mối quan tâm hàng đầu của ngành là làm thế nào người ta hiểu và giao tiếp với những người khác, và nhà tâm lý học xã hội đặc biệt quan tâm đến các quá trình nhận thức và xã hội nằm bên dưới các hành vi mở của con người. Kurt Lewin cho rằng mọi hành động của mỗi cá nhân phụ thuộc vào một khái niệm mà ông đặt ra hồi năm 1936 gọi là "không gian sống" của người đó, tức là bản đồ chủ quan về các mục tiêu của người này trong môi trường xã hội.

Sau khi tách khỏi ngành tâm lý học, chủ yếu là từ cách nhìn hành vi cá nhân qua ảnh hưởng xã hội, bộ môn tâm lý học xã hội ở Bắc Mỹ bất ngờ nhận được nhiều chuyên gia từ châu Âu chạy sang trốn chế độ Đức quốc xã trong thập niên 1930s và 1940s. Cùng lúc hai nhánh nghiên cứu cơ bản và ứng dụng được phát triển trong hai thập niên tiếp theo là 1950s và 1960s, rồi cùng kết hợp lại. Nói chung toàn ngành dựa trên 8 nguyên tắc chính, chia thành 3 nhóm. Đầu tiên là hai trục cơ bản của ngành, cho rằng người ta tự kiến tạo nên thực tại của mình, và các ảnh hưởng xã hội là lan truyền. Tiếp theo là nhóm 3 động cơ mà con người đi theo là luôn tìm cách hiểu và kiểm soát môi trường xung quanh, luôn tìm kiếm sự kết nối với những người khác, và coi trọng bản thân và những gì của mình. Cuối cùng là nhóm 3 nguyên tắc trong quá trình là coi các quan điểm đã hình thành thường thay đổi chậm, coi khả năng dễ truy cập thông tin sẽ ảnh hưởng mạnh nhất tới quyết định của con người, và có thể ảnh hưởng trên bề mặt lẫn chiều sâu.

Các nguyên tắc và phương pháp khoa học chính là điểm phân biệt giữa ngành tâm lý học xã hội và các nhận định đời thường về tâm lý xã hội mà người ta hay đọc thấy trên báo, hay ý kiến của đa số. Không ít nghiên cứu đưa ra những kết luận trái ngược với những điều người ta hằng tưởng, ví dụ như là không phải cứ trúng số là hạnh phúc hơn, hay thực sự ra người mắc bệnh hiểm nghèo thường lạc quan và có nghị lực hơn với cuộc sống. Nhà tâm lý học xã hội cũng giống người thường là đều chịu ảnh hưởng của môi trường xã hội khi nhận định và đánh giá vấn đề, nhưng khác là ý thức được về các ảnh hưởng đó. Do vậy, các giáo trình cho ngành học này thường bắt đầu bằng việc khám phá chính bản thân mình, qua con đường mà các triết gia ngày xưa gọi là kiến thức, tức là hiểu biết một cách khoa học về bản thân: self-knowledge. Theo đó, hiểu biết về bản thân gồm hai thành phần, trước hết là khái niệm về bản thân: self-concept và sau là cảm giác về mình: self-esteem. Người ta nhận biết được về bản thân thường là qua so sánh mình với những người xung quanh trong quá trình tương tác, thông qua các hành vi (behavior) của mình. Các đánh giá đó cũng bao gồm việc phân loại nhóm và thái độ đối với từng nhóm một, hình thành nên hình ảnh chủ quan về nhóm xã hội đó (stereotype), thường tạo thành qua quá trình dạy dỗ ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội. Còn cảm giác self-esteem sẽ chi phối việc xác định bản sắc nhóm, tình cảm gắn bó của cá nhân với nhóm đó. Tổng hợp lại hiểu biết về bản thân sẽ chi phối quá trình nhận biết chung quanh, chấp nhận các ảnh hưởng từ môi trường, đặt ra thái độ riêng với hoàn cảnh và tạo ra hành vi phù hợp.

Khi nắm bắt được các qui luật chi phối bản thân người ta có thể vận dụng để chi phối hành động của người khác thông qua nhóm, ví dụ như sự kiện làm chấn động chính trường nước Pháp vào tháng Tám năm 1990. Đảng xã hội tổ chức hội nghị thường niên và sử dụng một số sinh viên cùng diễn viên thất nghiệp đến tạo không khí ủng hộ nhiệt tình, có tác động lây lan sang các đại biểu bình thường. Những người hát rong hay bartender biết là nếu bỏ sẵn tiền tạo cảm giác những người khác đã cho tiền thì sẽ khiến người đi đường dễ cho tiền và cho nhiều hơn. Và như vậy, ngành tâm lý học xã hội có thể đi thêm một bước, tìm hiểu các định chuẩn (norm) được hình thành trong xã hội và tác động của nó đối với hành vi của các thành viên, từ người nhiệt thành tuân thủ cho đến người phá vỡ qui luật. Người ta cũng có thể nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa và tình dục vào việc lựa chọn kết bạn, hay tình yêu, hôn nhân. Thậm chí bộ môn này cũng nghiên cứu giải thích tình trạng bạo lực và xung đột giữa các nhóm, cũng như tìm giải pháp để giải quyết.

Nếu bạn cảm thấy hứng thú với phương pháp vừa kể để tìm hiểu bản thân và thế giới xung quanh, thì hãy bắt đầu quan tâm đến ngành tâm lý học xã hội, và đọc một vài trang sách giáo khoa chuyên ngành, như quyển sách vừa được dùng làm tài liệu tham khảo cho bài viết này, giáo trình của Eliot R. Smith & Diane M. Mackie 2000, Social Psychology, Psychology Press xuất bản.